thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 
Whakairo - điêu khắc truyền thống Māori - New Zealand (26-12-2016) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp
CẨM ANH (Biên tập)
-------------------------------------

Văn hóa Māori hình thành là một phần đặc biệt của văn hóa New Zealand.
Trong cộng đồng Māori và một phần nhỏ hơn suốt New Zealand, từ Māoritanga thì thường xuyên được sử dụng như là một từ đồng nghĩa nói về văn hóa Māori.
Nghệ thuật Māori truyền thống bao gồm Whakairo (Nghệ thuật Khắc, Chạm), Raranga (Dệt), Kapa Haka (trình diễn nhóm), Whaikorero (Nhà nguyện)
Nghệ thuật Whakairo - Nghệ thuật điêu khắc truyền thống trong văn hóa Māori  trên gỗ, đá, hoặc xương. Có thể thấy được những tác phẩm điêu khắc trên những tấm gỗ của những ngôi nhà, hay những công cụ cầm tay. Theo đó là những công cụ khác từ đá, đặc biệt đá màu lục, cũng là nguyên liệu để cho người Māori thể hiện khả năng nghệ thuật của họ và thông qua điêu khắc Whakairo, có thể thấy rõ nền văn hóa độc đáo, với những họa tiết lạ mắt và thể hiện phong cách của bản địa Úc Châu. Với những tác phẩm điêu khắc trên xương, đó có thể là một lưỡi câu, hoặc là một cây kim chẳng hạn. 
Những tác phẩm điêu khắc Whakairo thường thấy hình một mặt người, và với những đường nét mà thoáng qua có vẻ rất dữ tợn, nhưng khi tìm hiểu rõ văn hóa của người Māori, ta có thể thấy rất thú vị vì đó là một cách thể hiện tình cảm khác biệt trong văn hóa của họ - khi họ nhăn mặt, lè lưỡi, có người là họ đang chào đón một người mới.
Và bạn có thể thấy gương mặt dữ tợn này xuất hiện rất nhiều trong điêu khắc Māori, trên các họa tiết hình xăm trên gương mặt hoặc trong các họa tiết hóa trang khi có lễ hội.


Kết quả hình ảnh cho Whakairo  

Whakairo còn là kỹ thuật để người Māori sử dụng trên những con thuyền gỗ lớn, và đó là những con thuyền Voyage khi mà những người dân  Māori đầu tiên tìm đến vùng đất của họ.

Kết quả hình ảnh cho maori carving on wood

Trong những ngôi nhà truyền thống Māori, nghệ thuật Whakairo được thể hiện một cách rõ ràng và đậm nét.

Hình ảnh có liên quan


Thegioidep.info (Thế giới đẹp)

 
Rousoku - vẻ đẹp của nến Nhật Bản (26-12-2016) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

---------------------------------------
Nến là một loại nguyên vật liệu để thắp sáng, và được sử dụng phổ biến trên khắp Thế giới.
Mỗi vùng đất sẽ có một loại nến được tạo hình,trang trí theo đặc trưng riêng, theo văn hóa của vùng đất đó. Và tại Nhật Bản, nến cũng là một sản phẩm sử dụng phổ biến và được nâng cao tính thẩm mỹ bởi những trang trí đẹp mắt. Và cũng giống như nhiều loại sản phẩm khác, sản phẩm Nến của Nhật Bản cũng được nâng cao tính thẩm mỹ khiến người ta phải trầm trồ.

Nến Nhật Bản có rất nhiều loại, từ những loại nến thẳng không có họa tiết gì đến những loại nến được làm thành nhiều hình thù, màu sắc phong phú.
Hoa văn của loại nến này được vẽ hoàn toàn bằng tay, phổ biến nhất là hoa văn về hoa cỏ. Loại này thường được sử dụng cho các bàn thờ Phật đạo, thay cho hoa tươi.

Các loại nến cổ truyền của Nhật còn phù hợp với những bàn thờ Phật đạo trang trí lá vàng, vì chúng không tạo ra nhiều khói, và ánh nến có thể chống chịu trước gió lớn.
Những chiếc nến vẽ tay có thể được vẽ theo chủ đề, ví dụ như chủ đề bốn mùa, chúng sẽ làm căn phòng của bạn lung linh và đẹp đẽ hơn.
Loại cổ điển có dạng thẳng, không có hoa văn


rousoku1.jpg

Loại được in cũng thường có dạng thẳng, in những họa tiết đơn giản

rousoku2.jpg

rousoku3.jpg

rousoku4.jpg

Giá đỡ Nanbu - là loại giá đỡ chuyên dùng cho loại nến cổ truyền Wa-rosoku

rousoku5.jpg

rousoku6.jpg

Bên cạnh loại nến truyền thống wa-rousoku, nến Nhật Bản cũng đã trải qua nhiều thay đổi về hình dáng và màu sắc để phù hợp với cuộc sống hiện đại, với nhu cầu trang trí và thưởng thức cái đẹp của người Nhật.

rousoku7.jpg

rousoku8.jpg

Nguồn: Zen-jsc





 
Giấy truyền thống Washi - Nhật Bản (02-12-2016) 

Washi là một từ Nhật bản dùng để chỉ một loại giấy truyền thống được làm từ những sợi gỗ dài bên trong ba loại cây. “wa” có nghĩa là Nhật Bản và “shi” có nghĩa là giấy. Khi nước Nhật hối hả cùng nhân loại bước vào thế kỉ 21, những kỹ thuật tiên tiến ngày càng được sử dụng nhiều hơn, người ta có thể tạo ra các loại giấy hao hao washi về vẻ ngoài nhưng chất lượng thì không sao sánh được với washi thứ thiệt. Mùa thu năm 2008, toàn nước Nhật chỉ còn 350 gia đình sản xuất thủ công loại giấy truyền thống này.

Lịch sử

Mặc dù người Trung Quốc phát minh ra giấy từ thế kỉ thứ 1, nhưng phải tới năm 610 sau công nguyên loại hình nghệ thuật này mới được du nhập vào Nhật Bản theo chân những tăng lữ Phật giáo – những người thường phải tự làm giấy để chép Kinh Phật.

Năm 800, kĩ thuật làm giấy Nhật Bản phát triển không sao sánh kịp, và từ những sản phẩm cổ xưa đầu tiên, giấy washi trở nên vô cùng đa dạng và hoàn hảo cả về màu sắc, kết cấu và kiểu dáng. Cho tới thế kỉ 13, những kĩ thuật làm giấy mới lan truyền sang Âu Châu – 600 năm sau khi người Nhật biết sản xuất giấy.



washi1.jpg 


washi2.jpg

washi3.jpg

Cuối những năm 1800, nước Nhật có 100,000 gia đình sản xuất giấy thủ công. Với sự xuất hiện của kĩ thuật làm giấy cơ khí hóa của người phương Tây, những yếu tố “Tây phương” được khám phá ra sau sự ra đời của rèm (không phải Shoji) và giấy in kiểu Pháp (không phải Kozo), việc sản xuất loại giấy này trở nên sa sút cho tới năm 1983 với tất thảy 479 gia đình sản xuất còn sót lại. Ngày nay, chỉ còn một số ít gia đình chật vật đấu tranh trên thị trường thế giới với những sản phẩm giấy thủ công từ Ấn Độ, Thái Lan và Nepal, nơi mà mức sống của người dân còn thấp, đủ giúp họ duy trì được sản xuất giấy thủ công giá rẻ.

Nguyên liệu thô:

Vỏ trong của ba loại cây bản địa được sử dụng để làm giấy washi.

washi4.jpg

Kozo (giấy làm từ dâu tằm) được tương truyền là loại nguyên liệu tượng trưng cho phái mạnh, người bảo vệ, dầy dặn và mạnh mẽ. Những thớ gỗ được dùng nhiều nhất, và là phần cứng cáp nhất. Nó được trồng thành mùa vụ và được tái trồng trọt hàng năm, vì thế không bao giờ hết dâu tằm để làm giấy trong quá trình sản xuất.

washi5.jpg

washi6.jpg


washi7.jpg

washi có hoa văn trang nhã

washi8.jpg

washi nhuộm màu trơn

Mitsumata được coi là tượng trưng cho phái yếu: thanh nhã, tinh tế, mềm mại và nhũn nhặn. Để trồng được Misumata cần nhiều thời gian hơn vì thế loại giấy này cũng đắt tiền hơn. Đây là loại cây bản địa vì thế cũng được trồng thành mùa vụ.

washi9.jpg

washi10.jpg

còn đây là gampi

Gampi là loại cây ra đời sớm nhất và được coi là loại giấy đẹp đẽ nhất, dành riêng cho giới giàu có, cao quý, và trường thọ. Nó có vẻ óng ánh tự nhiên rất tinh xảo, được dát thành những mảnh mỏng dính dùng để bảo quản sách và trong kĩ thuật khắc axit. Gampi là một thành phẩm có cấu trúc tự nhiên giúp mực ko bị lem khi người ta viết hay vẽ lên.

Các loại chất liệu khác như sợi gai dầu, tơ chuối, tơ nhân tạo, lông đuôi ngựa, lá bạc hay lá vàng đôi khi được sử dụng để làm giấy hoặc hòa trộn với nhau cùng với các sợi gỗ khác dùng để trang trí.

Phương pháp sản xuất

lamwashi1.jpg


lamwashi2.jpg

Nhánh cây kozo, gampi, mitsumata được cắt tỉa, ngâm nước, tách vỏ, thớ gỗ thô ráp bên trong được tách ra bằng tay, làm sạch, sau đó được nghiền nát, kéo căng. Thớ gỗ bị nghiền nát kết hợp với tororo-aoi (rễ cây dâm bụt đã được lên men) tạo thành chất nhầy, tương tự keo dính khi trộn lẫn với nhau.

Chính cái chất dính này được trải đều tay rộng khắp trên một tấm tre rộng như màn chắn (gọi là su) để tạo thành những thếp giấy. Những thếp giấy này ban đầu còn ẩm ướt, sau đó được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời hoặc bằng máy hong khô tự động.

Đặc điểm của Washi

lamwashi3.jpg

Ấm áp. Khi sờ vào giấy washi, bạn sẽ thấy nó ấm áp hơn giấy làm từ bột gỗ của người phương Tây, washi mềm mại và tạo cảm giác ấm cúng đối với người xem. Cảm giác bề mặt đó rất thích hợp để dùng washi cho việc làm thiệp mời hoặc làm sách.

Hình dáng. Bởi vì các sợi gỗ được kéo dài, nghiền giã và kéo căng thay vì chặt nhỏ, washi tạo cảm giác cứng cáp. Loại washi thuần sợi gỗ có thể được may vá và dùng làm áo giáp hay kimono trong thời kì đầu.

Sức mạnh. Độ dài của các sợi gỗ và tính chất của các nguyên liệu thô đảm bảo rằng washi vẫn có thể dùng được khi đã bị ẩm. Vì vậy nó rất phù hợp để làm giấy bồi, và bản khắc axit khi mà giấy buộc phải được nhúng nước. Những thớ gỗ dài này còn được dùng để làm những mép giấy thô vô cùng đẹp đẽ.

lamwashi4.jpg
lamwashi5.jpg

Mềm mại và mờ ảo. Kozo và Mitsumata là những sợi gỗ mờ, một đặc tính vô cùng độc đáo của giấy phương Đông. Vì thế, nó được dùng để đổi màu ánh sáng.

Khả năng hấp thụ. Các sợi gỗ có khả năng hấp thụ mực và màu vẽ rất đặc biệt. Giấy ban đầu thuần màu sợi gỗ nhưng khi thấm mực thì trở nên đậm màu và đặc biệt sống động khi được thấm màu nước.

Linh hoạt. Vì những sợi gỗ nằm ngẫu nhiên bên nhau nên không có chút gợn nào trên mặt giấy washi. Nó mang lại cho tờ giấy khả năng chịu đựng sự uốn gấp, nhăn nhúm, và rách nát – và điều đó có nghĩa là giấy washi được dùng như là vải vóc, có thể bọc sách hay hộp đồ.

Nhẹ. Giấy washi nhẹ hơn rất nhiều so với những tờ giấy cùng độ dày. Là giấy sách, nó có thể tạo ra những trường đoạn không trọng lượng.

lamwashi6.jpg
lamwashi7.jpg

Hàm lượng axit thấp. Loại giấy thủ công truyền thống của Nhật bản gần như không có chút axit nào nếu chúng được chưa được tẩy trắng và phân cỡ. Những mẫu giấy in hoàn hảo của Nhật bản đã có mặt trên đời từ cách đây 1000 năm. Ngày nay, giấy của làng Kurotani là một trong những loại giấy hảo hạng nhất còn sót lại.

Trang hoàng. Trong nhiều thế kỉ, những thiết kế đa màu sắc trên gỗ lát đã tạo ra những loại giấy đặc sắc sặc sỡ, dùng để trang trí. Ngày nay, lưới tơ chiyogami (loại giấy nhỏ có kiểu dáng tương tự) đã bất ngờ có mặt và được những nghệ nhân rất yêu thích. Mặc dù làm bằng máy, chất lượng vẫn đạt được tới 70% so với Kozo với hàng trăm kiểu mẫu.

Nguồn Zen-jsc

 
Vẽ trên trứng miền Đông nước Đức (02-12-2016) 

Ở miền Đông nước Đức, nghệ thuật vẽ họa tiết trang trí lên vỏ trứng đã đạt đến trình độ tinh xảo kể từ khi xuất hiện cách đây 4 thế kỷ.

Với những dụng cụ đơn giản, thô sơ và hoàn toàn được làm thủ công, những nghệ nhân vẽ miền Đông nước Đức đã khoác chiếc "áo" mới sặc sỡ lên vỏ những quả trứng gà - vốn có màu trắng đơn điệu. Những họa tiết trên trang phục địa phương, thảm trải sàn hay tất cả những gì xuất hiện quanh vùng đều được tái hiện sinh động trên những quả trứng.Với những dụng cụ đơn giản, thô sơ và hoàn toàn được làm thủ công, những nghệ nhân vẽ miền Đông nước Đức đã khoác chiếc "áo" mới sặc sỡ lên vỏ những quả trứng gà - vốn có màu trắng đơn điệu. Những họa tiết trên trang phục địa phương, thảm trải sàn hay tất cả những gì xuất hiện quanh vùng đều được tái hiện sinh động trên những quả trứng.Xuất hiện từ thế kỷ thứ 17, kỹ thuật tinh xảo này dần được hoàn thiện và trở thành đặc trưng của những người Sorbs nơi đây. Họ quan niệm rằng những quả trứng tượng trưng cho sự sinh nở. Việc vẽ họa tiết lên những quả trứng sẽ giúp họ tránh được những điều bất hạnh và linh hồn quỷ dữ. Người Sorbs tin rằng, những họa tiết truyền thống này mang ‎ý nghĩa sâu sắc về tâm linh. Ví như vòng tròn tượng trưng cho mặt trời còn hình tam giác là biểu tượng cho răng sói nhằm tránh được quỷ dữ. Hình tam giác cũng tượng trưng cho mối quan hệ giữa cha, mẹ và con.Nghề thủ công này đòi hỏi sự tập trung cao độ và cần phải có những ngón tay linh hoạt để vẽ lên vỏ những quả trứng mỏng tang và dễ vỡ như thế. Trước lễ Phục sinh hoặc trước mỗi vụ mùa, người dân vùng Saxony và Brandenburg lại mang những quả trứng đã vẽ thả lăn trên cánh đồng để mong có được vụ mùa bội thu. Ngày nay, những tác phẩm nghệ thuật này còn được bày bán cho du khách và những ai đam mê nghệ thuật tinh xảo này.

Một số hình ảnh về nghệ thuật vẽ tranh lên trứng của người Sorbs:

‘ Các nghệ nhân cần có các ngón tay khéo léo linh hoạt và sự tập trung cao độ

‘ Các họa tiết sắc sỡ

‘ Họa tiết hình chú thỏ sinh động

‘ Các tác phẩm còn được bày bán cho khách du lịch

‘ Khá nhiều du khách tỏ mò về những "bức tranh" lạ

 
Nhuộm vải Batik - Indonesia (02-12-2016) 


Trong các chuyến du lịch đến với đất nước xinh đẹp Indonesia, bên cạnh những đại điểm du lịch hấp dẫn, du khách còn được hướng dẫn viên giới thiệu về Batik, nhưng có nhiều du khách vẫn chưa biết thực chất Batik là gì.

Batik chính là một tấm vải truyền thống được tạo ra bằng kỹ thuật nhuộm sáp và in các hoa văn bằng phương pháp thủ công truyền thống của người dân IndonesiaNghệ thuật nhuộm vải batikđã xuất hiện từ rất lâu, ta có thể tìm thấy vải Batik ở rất nhiều các quốc gia của Tây Phi như Nigeria, Ghana, Cameroon và Mali, hoặc ở khu vực Trung Á trải dài trên nhiều quốc gia như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ. Nhưng thật sự ở Indonesianghệ thuật nhuộm vải batik mới được đưa lên hàng đỉnh cao, vải batik Indonesia được xem như một thương hiệu nổi tiếng toàn thế giới bởi hoa văn được nhuộm theo lối truyền thống, cùng với giá trị thẩm mỹ và văn hóa sâu sắc. Để tôn vinh giá trị của nghệ thuật truyền thống này, nghệ thuật nhuộm vải batik của người dân Indonesia được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2009.

Batik chính là một tấm vải truyền thống được tạo ra bằng kỹ thuật nhuộm sáp và in các hoa văn bằng phương pháp thủ công truyền thống của người dân Indonesia

Batik chính là một tấm vải truyền thống được tạo ra bằng kỹ thuật nhuộm sáp và in các hoa văn bằng phương pháp thủ công truyền thống của người dân Indonesia


Tại Indonesia có rất nhiều nơi làm ra loại vải batik, du khách có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh người dân nơi đây đang dệt vải, một cơ hội quý bàu để khám phá và chiêm ngưỡng kĩ thuật dệt vải truyền thống này. Quá trình làm ra một tấm vải Batik bào gồm hai bước chính. Trước tiên người nghệ nhân bắt đầu bằng việc vẽ các hoạt tiết bằng sáp ong pha trộn với nhiều sắc độ khác nhau. Màu sắc truyền thống thường được sử dụng trong nghệ thuật nhuộm vải batik là màu nâu và màu chàm. Đó là những gam màu được chiết xuất dễ dàng từ thiên nhiên. Ngày nay, vải Batik có mầu sắc rất đa dạng và phong phú, từ màu cam ráng chiều đến hồng và xanh lơ. Các họa tiết, hoa văn trên nền vải lúc đầu được vẽ bằng tay và sử dụng một dụng cụ gọi là canting, có hình dáng như một cây viết, đầu nhọn chĩa xuống phía dưới, phía trên hình phễu để đựng sáp. Phương pháp vẽ bằng tay theo lối thủ công này sẽ giúp cho các nghệ nhân thỏa sức sáng tạo theo ý thích của mình, cho nên du khách sẽ thấy rất hiếm khi các tấm vải batik có trùng một nội dung. Sau khi đã phơi khô, các nghệ nhân nhúng vào dung môi để hòa tan hết sáp, để lộ ra những hoa văn tuyệt đẹp. Các hoa văn, họa tiết cũng rất đa dạng từ cây cỏ, muông thú cho tới phong cảnh, đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân. Mỗi tấm vải batik không chỉ đơn giản là một sản phẩm may mặc mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần và tâm huyết mà các nghệ nhân đã gửi gắm trong đó, toát lên đươc những nét độc đáo của văn hóa Indonesia. Vẻ đẹp độc đáo của vải Batik không lẫn vào nhau thu hút sự quan tâm của nhiều du khách quốc tế khi đến Indonesia.

Mỗi tấm vải batik không chỉ đơn giản là một sản phẩm may mặc mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần và tâm huyết mà các nghệ nhân đã gửi gắm trong đó

Mỗi tấm vải batik không chỉ đơn giản là một sản phẩm may mặc mà nó còn chứa đựng những giá trị tinh thần và tâm huyết mà các nghệ nhân đã gửi gắm trong đó


Những tấm vải batik vời nhiều họa tiết khác nhau được người dân Indonesia chia ra nhiều phần khác nhau tùy theo mục đích sử dụng, nếu sử dụng hàng ngày thì các hoa văn sẽ đơn giản, nếu dùng trong những dịp lễ, tết thì hoa văn trang trí sẽ cầu kì hơn. Trang phục được sử dụng trong các buổi chiêu đãi cấp nhà nước thì người nam sẽ mặc áo sơ mi dài tay và batik dài toàn thân dành cho phụ nữ. Trong lễ cưới cô dâu chú rể sẽ mặc batik sidomukti tượng trưng cho cuộc sống lứa đôi hạnh phúc. Cha mẹ của cô dâu và chú rể mặc batik với họa tiết truntum tượng trưng cho những lời khuyên của các đấng sinh thành với mong ước cho đôi trẻ bước vào cuộc sống lứa đôi hạnh phúc, bền vững.


Vải Batik được sử dụng để làm trang phục cưới cho cô dâu và chú rể ở Indonesia
Vải Batik được sử dụng để làm trang phục cưới cho cô dâu và chú rể ở Indonesia

Ngày nay việc làm những tấm vải Batik thủ công không còn phổ biến như thời kì trước do tác động của kĩ thuật in hiện đại. Batik thật sự là một nghệ thuật truyền thống dân gian cần được giữ gìn và phát huy, bên cạnh đó Batik cũng là một món quà vô cùng ý nghĩa và độc đáo mà du khách có thể mua về tặng cho người thân và gia đình nếu có dịp du lịch Indonesia.

Migola Travel

 
Yuzen- Nghệ thuật nhuộm vải Nhật Bản (02-12-2016) 

Nguồn gốc kỹ thuật Yuzen:

Phát minh vào đầu thế kỷ thứ 18 giữa thời đại Edo, bởi một họa sĩ ở Kyoto có tên là Miyazaki yuzen-sai. Thuật ngữ Yuzen xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn sách về thời trang Gen-siki-kan xuất bản năm 1867. Đồng thời nó cũng được đề cập đến trong vở kịch nổi tiếng của Ihara Saikaku có tên Kosyuku Itidai Otoko. Ngay từ lúc xuất hiện nó đã trở thành nghệ thuật nền tảng tân tiến nhất trong kỹ thuật nhuộm kimono. Yuzen nhanh chóng trở thành phong cách trong khi 20 lọai hình nhuộm khác đã bị mai một. Cho đến nay kỹ thuật này vẫn được thực hiện bằng phương pháp thủ công, chỉ khác chất liệu đã dần được thay thế bằng sự tiến bộ của ngành công nghiệp hóa chất.

Lý do chủ yếu dẫn đến thành công của Yuzen là các họa tiết trên vải. Những họa tiết truyền thống này bắt nguồn từ thời Heian, những năm 1000s, chủ yếu là hoa và cây, có thể rất tự nhiên hoặc trừu tượng. 

Vải nhuộm bằng phong cách Yuzen có nhiều màu sắc, bền và chịu được nước. Kỹ thuật Yuzen thể hiện độ tinh xảo cao bởi có thể cho ra những nét rất mảnh, lại vô cùng chính xác. 

Ngày nay, Yuzen đã thật sự trở thành phong cách sáng tạo cho các nghệ sĩ. Các nhà thiết kế chỉ cần lấy cảm hứng từ những họa tiết đặc trưng của Yuzen cũng đủ đảm bảo sự tinh tế sắc sảo trong các sáng tác của họ. Một trong những khuynh hướng thành công nhất ngòai việc áp dụng Yuzen cho kimono đó là họa tiết cho giấy trong nghệ thuật Origami lừng danh. Người Nhật gọi đó là Utsushi- yuzen.

Yuzen trở thành niềm tự hào của nền văn hóa Nhật Bản và trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho ngành dệt may, thời trang trên thế giới. 

Kỹ thuật nhuộm Yuzen:


Nhuộm-vẽ yuzen phải trải qua nhiều công đọan, tất cả đều phải thực hiện tỉ mỉ bằng tay. Quan trọng nhất là khâu vẽ họa tiết. Người nghệ sĩ gần như phải nín thở khi thực hiện nó để đảm bảo bố cục hoàn chỉnh như một bức tranh được chuyển tiếp màu sắc một cách tinh tế. Nên bạn đừng bao giờ thắc mắc về giá cả của nó! Nhuộm Yuzen bền màu, chịu được nước, áp dụng cho nhiều lọai vải và vẫn giữ được đặc tính riêng của từng lọai vải sau khi nhuộm. Hơn nữa, Yuzen có thể nhuộm chính xác đối với từng nét mảnh, ngay cả đối với những mũi thêu, mũi móc.  
Sau đây là 7 bước mô tả kỹ thuật Yuzen cơ bản:

1. Ao-bana utushi:

Dùng cọ Vẽ mẫu họa tiết lên vải bằng chất ao-bana. Ao-bana là dung dịch ép từ cây rau trai (spiderwort), khi vẽ sẽ đọng lại từng giọt trên vải nhưng chúng sẽ được tẩy sạch khi giũ trong nước. Chất này khá đắt tiền vì thế mà ngày nay người ta đã thay thế chúng bằng các lọai hóa chất

2. Nori oki

Vẽ tiếp lên mẫu bằng keo để giữ bề mặt đường nét khi nhuộm

Keo được chứa trong ống giấy hình phễu, cắt lỗ nhỏ phần chóp để tạo độ sắc nét, ống này được gọi là Ito-me

Giữ vải trong nước để làm sạch chất Ao-bana, sau đó phơi khô


4. Fuse Nori

Phủ một lọai keo đặc biệt lên tòan bộ bề mặt mẫu vẽ. Keo này được làm từ gạo nếp theo phương thức truyền thống, gọi là Hon-nori.
Sau khi phủ keo, trải thẳng tấm vải để không bị đọng khí và rắc bột để làm khô keo

5. Gojiru ji ire

Gojiru là hỗn hợp của Endocladiaceae (một dạng tảo biển) và bột đậu nành. Dùng hỗn hợp này để quét lên bề mặt tấm vải. việc này giúp cho lớp keo ngâm sâu hơn và tránh việc màu sắc lan ra ngòai phạm vi của đường keo đó.

Gojiru ji ire, người nhuộm tỉ mỉ dùng hỗn hợp tảo biển và bột đậu nành quét lên vải để giúp keo ngấm sâu hơn, tránh mờ nhòe. 

6. Ji Zome

Nhuộm màu tòan bộ bề mặt vải. nhuộm nhiều lần để màu thêm bền. Phơi khô trong khỏang 40 phút rồi đem giũ nước để tẩy lớp keo.

7. Iro sashi

Sau đó, lớp gojiru tảo biển và bột đậu nành được phủ thêm một lần và tô màu bằng cọ lên các hoa văn đã vẽ trước đó. 

Đây là phần chức năng quan trọng nhất của Yuzen.  Đem giặt làm khô và ủi là hòan tất các bước.

Các trường phái YUZEN:

Nét đặc sắc cũng như linh hồn của Yuzen nằm ở họa tiết của nó. Bên cạnh kỹ thuật bền chắc thì những motif hoa lá, cây cỏ mang chủ nghĩa tự nhiên hay trừu tượng từ thời Heian khẳng định sự độc đáo quyến rũ cho Yuzen. Không chỉ những bộ Yuzen Kimono mà bất kể trang phục nào, vật liệu nào áp dụng kỹ thuật Yuzen đều giống như một tác phẩm nghệ thuật. Bên cạnh Yuzen tại Kyoto còn có các dòng khác của Yuzen tại Kaga. Khác nhau là ở tính biểu tượng kyo-Yuzen, và tính tượng trưng của Kaga-Yuzen.

Có nhiều dòng Yuzen khác nhau: Kaga mang màu sắc tự nhiên hơn còn Kyo mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Do đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, vải nhuộm Yuzen thường rất đắt tiền.

Kaga Yuzen:

 

Kyo-Yugen:

Một số mẫu trang phục ứng dụng nghệ thuật nhuộm Kyo-Yuzen

Nguồn: Sưu tập Internet



  




 
Tơ tằm Nhật Bản (02-12-2016) 

Từ xa xưa, người Nhật đã bị quyến rũ bởi vẻ đẹp óng ánh và đặc tính mềm mại của tơ lụa. Bị cuốn hút bởi vẻ đẹp thuần khiết của tơ tằm, người Nhật đã ứng dụng chất liệu này vào nhiều lĩnh vực. Lụa tơ tằm rất thích hợp với khí hậu và phong thổ Nhật Bản với mùa hè nóng bức và mùa đông lạnh giá.

Người Nhật thích dùng tơ tằm để may trang phục kimono truyền thống. Những chiếc kimono tơ tằm có hoa văn đa dạng, màu sắc tươi tắn là mặt hàng cao cấp được mọi người rất ưa chuộng.

Bộ kimono được nhuộm bằng kỹ thuật nhuộm vẽ Yuzen truyền thống là dòng sản phẩm đại diện cho ngành dệt nhuộm của Nhật Bản. Hoa văn trang trí trên chiếc kimono trông giống như một bức tranh thiên nhiên 4 mùa sinh động với cây cỏ, hoa lá, chim chóc. Màu sắc, đường nét sống động, giàu ngôn ngữ biểu cảm trong kỹ thuật này đã tạo nên nét độc đáo, quyến rũ cho trang phục truyền thống của Nhật Bản. Kỹ thuật nhuộm vẽ Yuzen được ưa chuộng bởi độ bền của màu sắc, sản phẩm chịu được nước, áp dụng được cho nhiều loại vải và vẫn giữ được nét đặc trưng của từng loại vải sau khi nhuộm.

Kỹ thuật nhuộm vẽ Yuzen truyền thống giàu màu sắc, đường nét sống động, giàu ngôn ngữ biểu cảm

Không chỉ là loại nguyên liệu phổ biến dùng để dệt vải, tơ tằm còn là nguyên liệu hảo hạng trong một số lĩnh vực khác. Đàn shamisen được thế giới biết đến như một loại nhạc cụ đặc trưng của người Nhật. Dây đàn được làm từ sợi tơ tằm. Độ bền chắc cùng vẻ thanh mảnh của sợi tơ đã góp phần tạo nên những thanh âm trong trẻo của tiếng đàn shamisen.

Đàn shamisen được thế giới biết đến như một loại nhạc cụ đặc trưng của người Nhật

Từ xưa, tỉnh Gunma đã được biết đến là vùng trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải nổi tiếng của Nhật Bản. Tại đây có những cánh đồng dâu tằm xanh mướt trải dọc theo các sườn núi. Người dân trong vùng trồng dâu để nuôi tằm. Lá dâu là nguồn thức ăn ưa thích của chúng. Mỗi ngày, người nuôi tằm đều phải hái lá dâu cho tằm ăn. Thời điểm thích hợp để nuôi tằm là từ mùa xuân đến mùa thu vì lúc này thời tiết ấm áp.

Tằm ăn dâu cả ngày lẫn đêm nên người nuôi phải canh giờ cho tằm ăn. Ngoài ra, môi trường sống và giấc ngủ của chúng cũng phải được chăm sóc cẩn thận.

Tằm ăn dâu cả ngày lẫn đêm

Tằm là loài rất nhạy cảm với thời tiết, nó không thích tiết trời quá nóng hay quá lạnh. Nhiệt độ thích hợp để tằm sinh trưởng tốt là từ 20 đến 25 độ C. Từ lúc trứng nở đến khi nuôi được 24 ngày, tằm bắt đầu chín. Tằm chín da láng bóng, ngưng ăn dâu và đi tìm nơi thích hợp để nhả tơ làm tổ. Người nuôi cần nhận biết thời điểm tằm chín để cho nó lên nơi làm tổ, được gọi là né tằm.

Né tằm

Né tằm của người Nhật có tên gọi Kaiten-mabushi là những khung gỗ được chia ra thành nhiều ô nhỏ hình vuông. Tằm chín được thả lên nó để chúng tự tìm nơi làm tổ. Thường thì mỗi ô vuông là một kén tằm. Khi đã có được nơi thích hợp, tằm bắt đầu nhả tơ tạo kén. Lúc này, tằm miệt mài nhả tơ làm tổ không ngưng nghỉ. Mất khoảng 3 ngày tằm hoàn thành xong tổ kén và nằm gọn trong đó. Theo ước tính, tổng chiều dài sợi tơ mà tằm nhả ra để tạo kén là 1.300 mét.

Vào cuối thế kỉ XIX, ngành công nghiệp tơ tằm là một phần then chốt trong mục tiêu hiện đại hóa của Nhật Bản. Gía trị thương mại của lĩnh vực sản xuất tơ tằm vào thời điểm đó đạt khoảng 3 tỉ yên nếu tính theo thời giá hiện nay. Ngành công nghiệp này chiếm 5% tổng sản lượng nội địa và là một trong các dự án phát triển trọng điểm của quốc gia.

Sợi tơ tằm vàng óng

Lúc đầu, các nhà máy dệt tơ tằm của Nhật Bản dựa theo mô hình được nhập khẩu từ Pháp, vào thời điểm đó, Pháp là quốc gia nổi tiếng thế giới về ngành công nghiệp này. Trong khi các nhà máy dệt tơ tằm đang nổ lực đẩy mạnh năng suất thì một biến cố đã xảy ra. Dịch bệnh trên tằm do vi khuẩn đã khiến ngành nuôi tằm tại Nhật bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều nhà máy đã ngưng hoạt động do thiếu nguồn nguyên liệu.

Vào năm 1905, với mục tiêu khôi phục ngành sản xuất tơ tằm của Nhật Bản đang đương đầu với khó khăn, ông Toyama, một nhà khoa học của Nhật Bản, đã đến Thái Lan và nuôi dưỡng thành công một giống tằm hoang dại bản xứ. Giống tằm mới này cho ít tơ nhưng bù lại nó có khả năng chống chọi với bệnh tật rất tốt.

Để giống tằm mới có thể sống tốt trong điều kiện khí hậu ở Nhật cũng như cho ra lượng tơ như mong muốn, ông Toyama đã cho lai tạo giữa giống tằm mới có khả năng kháng bệnh tật tốt với giống tằm Nhật Bản cung cấp nhiều tơ. Sự kết hợp này cho ra một giống tằm vừa khỏe mạnh vừa cho tơ nhiều gấp 3 lần. Sau kết quả nghiên cứu này, Toyama đã thuyết phục chính phủ Nhật Bản sử dụng giống tằm lai cải tiến và đề nghị của ông được chấp thuận.

Sau khi giống tằm lai tạo của nhà nghiên cứu Toyama được phổ biến, ngành công nghiệp tơ tằm của Nhật Bản tiếp tục phát triển. Các nhà máy chế biến tơ tằm thu hút một lượng lớn lao động nữ lúc bấy giờ. Vải tơ tằm của Nhật Bản không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Vào thời kì hoàng kim của ngành công nghiệp tơ tằm, cả nước Nhật có đến 236 nhà máy dệt tơ.

Năm 1934 là thời điểm đánh dấu giai đoạn hoàng kim của ngành công nghiệp tơ tằm Nhật Bản với vị trí đứng đầu thế giới. Nó đã góp phần không nhỏ trong công cuộc hiện đại hóa của xứ sở Phù Tang.

Nguồn: THVL / Thanh Tâm

 

 
Nơi mua những thước vải đẹp trên thế giới (02-12-2016) 

Bạn có thể mua lụa Yuzen làm nên những bộ kimono truyền thống khi đến Nhật Bản hoặc Tartan, chất liệu của chiếc váy caro nổi tiếng Scotland.
Endek - Bali, Indonesia

Trước đây chỉ có những gia đình giàu có mới mặc đồ làm từ vải Endek. Ngày nay, loại vải truyền thống của đảo Bali phổ biến hơn, được dệt thủ công từ sợi bông, tơ nhân tạo hoặc tơ tằm. Trang phục làm từ vải Endek hầu hết được mặc trong các sự kiện trang trọng như lễ, tết, cưới hỏi... Bạn hãy tìm mua loại vải dệt không in vì điều đó chứng tỏ sản phẩm được dệt thủ công bằng khung cửi. Giá cả phụ thuộc vào độ phức tạp của mẫu thiết kế. Bạn có thể tìm mua loại vải này ở các chợ hoặc cửa hàng bán lẻ như Balitex, gần Denpasar - thủ phủ Bali. Bạn có thể mặc Endek như sarong hoặc khoác như khăn choàng trong mùa hè.

Kente - Ghana

Vải Kente được dệt bởi người Asante và Ewe ở Ghana từ khoảng 400 năm trước, phổ biến nhất là kết hợp của sợi bông và lụa. Màu sắc trên mỗi mảnh vải có ý nghĩa riêng. Ví dụ, màu xanh lá cho thấy sự sinh sôi và phát triển, trong khi màu xanh biển tượng trưng cho hòa bình và cân đối. Hơn 300 mẫu hoa văn được lưu giữ đến ngày nay. Vải Kente thường được tìm thấy tại các chợ ở Accra, Ghana và nhiều nơi khác. Chúng được các nhà thiết kế ở châu Phi và thế giới sử dụng cho các mẫu áo khoác, sơ mi, váy, quần hoặc túi xách.

Khadi - Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ

Khadi là một loại vải có lịch sử 5.000 năm tuổi. Đặc điểm của nó là mềm, nhẹ, độ bền cao, có màu sắc đơn giản và được dệt hoàn toàn bằng tay. Vải thường được dùng để may áo trùm hông và jacket. Thủ tướng Ấn Độ, Narendra Modi, là người rất thích mặc các trang phục làm từ loại vải này. Một số nhà thiết kế Ấn Độ cũng bắt đầu sử dụng loại vải này trong các bộ sưu tập mới nhất của họ, bao gồm cả việc kết hợp Khadi với denim (chất liệu bò).

Lụa Yuzen, Nhật Bản

Điều đặc biệt của lụa Yuzen nằm ở phương pháp nhuộm và vẽ hoa văn thủ công trên nền vải với sự hỗ trợ của một lớp keo làm từ gạo. Theo truyền thống, mỗi công đoạn sẽ do một chuyên gia thực hiện do đó giá của loại vải này không hề rẻ. Lụa Yuzen thường được dùng cho kimono, trang phục truyền thống Nhật Bản. Ngày nay, những bộ Kimono được mặc trong cả sự kiện trang trọng và không chính thức.

Kitenge - Kenya và Đông Phi

Loại vải này là một phần quan trọng của văn hóa thị giác ở Đông Phi và có hàng nghìn mẫu thiết kế. Ngày nay nhiễu mẫu mới được tạo ra để mặc trong các nghi lễ quốc gia và các sự kiện khác. Giá cả của loại vải này không quá tốn kém và có thể được sử dụng bằng nhiều cách như sarong, váy... Bạn có thể tìm thấy nó trong các chợ ở nhiều thành phố lớn của Kenya, Rwanda, Tanzania. Sau đó bạn cũng nên hỏi thăm một thợ may giỏi để thiết kế một mẫu trang phục ưng ý.

Vải Mapuche - Chile và Argentina

Đây là loại vải nổi tiếng của tộc người Mapuche bản địa ở miền nam và trung Chile cũng như Tây Nam Argentina. Chúng được coi như của hồi môn khi các cô gái về nhà chồng để chứng tỏ sự khéo léo. Tại đây, phụ nữ chỉ làm công việc duy nhất là dệt vải và các kỹ năng, kiến thức được truyền từ mẹ sang con. Ban đầu, loại vải này được dệt từ lông alpaca (một loại lạc đà không bướu ở Nam Mỹ) nhưng ngày nay chủ yếu làm từ lông cừu hoặc kết hợp của các loại này nên rất ấm và bền. Vải thường được dùng để may áo poscho, chăn hoặc thắt lưng. Những người Mapuche ở nông thôn vẫn thường dùng loại vải này. Không dễ dàng tìm thấy ngoài dãy núi Andes, nhưng đôi khi chúng vẫn được bán tại các chợ.

Vải thêu - Armenia

Loại vải này rất phổ biến, nhưng trong nhiều thế kỷ, chúng được mặc chủ yếu bởi giới quý tộc ở Đông và Tây Âu. Các hoa văn được thêu trên vải vô cùng phức tạp, mang đậm văn hóa Armenia. Trước đây, ngoài dùng như của hồi môn, vải cũng được xuất khẩu sang nhiều nước và đến nay vẫn là một loại hình nghệ thuật. Du khách có thể tìm thấy nó trong các cửa hàng bán đồ dùng gia đình. Vải thường được dùng làm khăn trải bàn, trải giường và vỏ gối.

Sherma - Tây Tạng, Trung Quốc

Làm sherma là một quá trình phức tạp. Đầu tiên, họ thu hoạch lông cừu và yak (bò Tây Tạng) được chăn thả ở dãy Himalaya. Sau đó, lông được kéo thành sợi bằng tay, nhuộm màu tự nhiên và dệt bằng khung gỗ nhỏ. Do đó các tấm vải rất mềm và mỏng. Chúng được may lại với nhau tạo thành pangden (phụ nữ thường mặc sau khi kết hôn). Ngoài ra, vải cũng được dùng may thành vỏ gối và túi bán cho du khách trong các chợ. Hãy kiểm tra sherma bạn mua được làm từ len hay sợi tổng hợp bằng cách đốt một góc. Nếu là đúng sherma, nó sẽ cháy như tóc, còn không sẽ tan chảy như nhựa.

Jaspe - Mexico

Điểm nổi bật của loại vải này là độ bền và được dệt từ loại khung đeo rất nặng - telar de otate. Một trong số các sản phẩm làm từ jaspe được biết đến nhiều là rebozo - khăn quàng dài, hình chữ nhật. Nó được sử dụng để địu em bé và mang vác các đồ nặng khác, ngoài ra còn là khăn trùm đầu trong nhà thờ. Các loại khăn này thường có tua để phân biệt. Bạn có thể tìm thấy loại khăn này trong hầu hết cửa hàng ở Mexico.

Tartan - Scotland

Màu sắc của vải sẽ chỉ ra nơi Tartan được làm ra. Một số tộc người Scotland bắt đầu tạo ra vải Tartan riêng từ những năm đầu thế kỷ 19. Tartan được mặc ở vùng cao nguyên Scotland trong nhiều thế kỷ, và ngày nay được các nhà thiết kế cao cấp như Burberry, Alexander McQueen, và Vivienne Westwood sử dụng khá nhiều. Nếu bạn muốn mua, hãy tìm loại được dán nhãn "Made in Scotland" hoặc yêu cầu nhân viên bán hàng cho biết xuất xứ.

Nguồn: Vy An (theo CnTraveller - Baomoi.com)

 
Trang phục dân tộc Thái (02-12-2016) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

_________________________

Từ xưa, phụ nữ Thái đã nổi tiếng với nghề trồng bông, dệt vải. Trong gia đình người Thái ở Tây Bắc bao giờ cũng phải có nương bông, nương chàm hàng năm trồng, tỉa để lấy bông dệt vải, lấy chàm nhuộm, trong nhà có xa quay sợi, bật bông, có khung dệt, khung thêu… Các bé gái từ 8 đến 10 tuổi đã bắt đầu được bà, được mẹ, được chị hướng dẫn những công việc đầu tiên trồng bông, làm sợi, dệt vải, thêu thùa. Cũng từ đây, dệt vải, thêu thùa đã trở thành công việc thường ngày, xuyên suốt trong cuộc đời người phụ nữ cho đến khi về với ông bà, tổ tiên; đồng thời nó cũng được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá phẩm hạnh người phụ nữ.

Dân tộc Thái gồm hai ngành Thái đen và Thái trắng. Trang phục thường ngày của hai ngành có nhiều điểm tương đồng, điểm khác nhau căn bản để phân biệt chủ yếu phải dựa vào phần cổ áo. Với người Thái đen cổ áo thường may cao ôm khít cổ, còn đối với người Thái trắng thì cổ áo thường được cắt may theo hình chữ V. Về cơ bản, nữ phục của người Thái bao gồm áo cóm, váy, thắt lưng, xà tích, khăn piêu, cùng các loại trang sức kèm theo như vòng cổ, vòng tay, hoa tai.

Áo cóm là loại áo được may bó sát người, dài đến ngang eo, khi mặc được dắt vào bên trong váy. Chính giữa áo là hàng nẹp áo được may ghép bằng loại vải khác có màu sắc nổi bật. Trên đó được đơm những hàng cúc bạc (hiện nay chủ yếu là cúc làm bằng kim loại khác như nhôm hoặc inox) với nhiều tạo hình khác nhau hình bướm, hình ong, hình ve... Chính hàng cúc bạc này đã làm cho áo cóm trở thành chiếc áo đặc trưng trong bộ nữ phục Thái; bởi theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo cóm là tượng trưng cho sự kết hợp của nam và nữ, tạo nên sự trường tồn của giống nòi.

Áo cóm xưa kia thường được làm bằng vải bông nhuộm chàm cũng có khi là vải thổ cẩm tự dệt. Theo dòng thời gian, đến nay phụ nữ người Thái đã biết tạo nên cho mình những chiếc áo cóm với màu sắc và chất liệu đa dạng, phong phú hơn nhưng hình dáng chiếc áo vẫn được đồng bào bảo lưu nguyên vẹn. Có người từng nói rằng, trang phục Thái khéo léo làm tôn vẻ đẹp người con gái, họ biết tận dụng trang phục để khoe cơ thể. Con gái Thái vừa cao, vừa trắng lại để tóc dài, mặc áo cóm ngắn bó sát người vừa tôn vẻ đẹp hình thể vừa kín đáo, tế nhị.

          Váy trong tiếng Thái là xỉn, cũng được làm bằng vải bông nhuộm chàm. Thông thường khổ vải tự dệt chỉ rộng từ 40 đến 50 cm nên người ta thường phải cắt 4 khổ khâu vào với nhau. Vì vậy khổ váy thường rộng từ 170 đến 200 cm còn chiều dài của váy thì tùy vào chiều cao từng người mặc. Váy Thái cổ có phần cạp váy được làm bằng màu nhạt hơn phần thân váy, và có thêm phần lót bên trong váy gọi là “lõng xỉn”, phần lót này tạo sự kín đáo cho chiếc váy. Khi mặc váy có thể gập 2 bên vào giữa hoặc có thể gấp về 1 bên làm cho váy có độ xoè, khi bước đi, lên cầu thang, lao động, hoặc múa được dễ dàng và cũng làm cho chiếc váy thêm phần xúng xính.

          Phụ trang đi kèm không thể thiếu trong bộ nữ phục đó là dây thắt lưng. Thắt lưng dài khoảng một sải tay được làm bằng tơ, thường có màu xanh rêu, người già thì hay thắt dây màu tím. Khi thắt vòng dây lưng qua eo hai vòng sau đó thắt lại cho chặt rồi dắt vào trong dây vòng quanh eo. Ngày nay dây thắt lưng cũng đã được cải tiến có móc khóa cho khỏi tuột và không còn gấp nếp như trước.

          Xà tích cũng là một loại trang sức đi kèm với dây thắt lưng. Xà tích được làm từ bạc trắng và có nhiều loại khác nhau. Thông thường dùng loại xà tích năm dây, có loại vòng qua bụng được một vòng, có loại vòng qua bụng được hai vòng. Còn có loại chỉ dùng để treo ở thắt lưng, chiều dài khoảng 20 cm, nhưng chân dưới có gắn móng chân tay gấu, hổ, có nẹp bạc để giữ.

          Khăn piêu - nét đặc trưng tiêu biểu cho bộ nữ phục Thái đồng thời cũng là nét đặc trưng chung cho văn hóa Thái. Khăn piêu được xem như vật bất li thân của các cô gái Thái. Piêu theo cô gái lên nương, đến chợ hay khi tham gia lễ hội, xên bản xên mường, là quà tặng người yêu, tặng bố mẹ, anh chị em chồng khi về nhà chồng. Để làm piêu người ta vẫn sử dụng khuôn vải nhuộm chàm nhưng được nhuộm thêm vài lần để mặt vải láng cứng ánh sắc chàm đen. Piêu thường dài khoảng 150 cm, rộng nhất cũng không quá 2 gang tay. Hai phần vải đầu khăn được gọi là gương mặt của piêu nên được các cô gái thêu thùa rất tỉ mỉ, thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái. Mặt piêu thường được thêu hoa văn hình ngôi sao tám cánh biến thể hoặc hình quả trám... bằng các loại chỉ màu trắng, xanh, đỏ, tím, vàng rất sặc sỡ. Ngày nay, piêu không chỉ được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng người Thái mà nó còn được các dân tộc láng giềng như Xinh Mun, Khơ Mú, La Ha ưa dùng, cùng với đó piêu đã trở thành một món quà lưu niệm đối với du khách mỗi khi có dịp ghé thăm Tây Bắc.

                  

                        Piêu - nét đặc trưng của văn hóa Thái (ảnh: Sưu tầm)

          Người Thái là một dân tộc rất coi trọng về hình thức trang phục. Điều này không chỉ thể hiện trong các dịp hội hè mà ngay trong cuộc sống hàng ngày cũng cần mặc đẹp. Mỗi bộ trang phục được làm ra chính là tình cảm, là niềm tự hào của mỗi cô gái.

          Ngày nay mặc dù sự phát triển của kinh tế - xã hội và sự giao thoa văn hóa giữ các vùng miền, các dân tộc đã có tác động mạnh mẽ tới yếu tố văn hóa truyền thống. Song nữ phục Thái vẫn đang được đồng bào bảo lưu, gìn giữ rộng rãi. Và theo dòng chảy của thời gian nó càng khẳng định được sức sống và vị thế của mình trong đời sống xã hội Thái. Nữ phục Thái nói riêng là giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Thái. Nó không chỉ thể hiện yếu tố sử dụng mà còn thể hiện cả yếu tố thẩm mĩ, văn hóa và tín ngưỡng trong quan hệ cộng đồng mà hàng nghìn năm nay không thay đổi. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy nét văn hóa độc đáo nữ phục Thái là một việc làm quan trọng và cần thiết.


Nguồn: Utb.edu.vn



 
[1] 2 3  Sau

Tin đã đăng

Trang phục dân tộc Tày (02-12-2016)
Trang phục dân tộc qua ảnh (02-12-2016)
Loài Ngựa trong văn hóa phương Đông và phương Tây (10-12-2016)
Bí ẩn cuốn sách 100 năm vẫn không thể giải mã (01-12-2016)
Những lầm tưởng hoang đường về thời Trung cổ (01-12-2016)
Kinh ngạc những bức tranh 32.000 năm tuổi (01-12-2016)
Cầu Trường Tiền và lịch sử về một xưởng đúc tiền danh tiếng (01-12-2016)
Ấn tượng nhà cổ ở Túy Loan (01-12-2016)
Hình vẽ cổ xưa của người Maya (01-12-2016)
 
VIDEO