thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 
Người Māori - New Zealand (26-12-2016) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

CẨM ANH (lược dịch và tổng hợp)
----------------------------------------------

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về người Māori - New Zealand. Tuy nhiên, trước tiên, chúng ta không nên nhầm lẫn với người Maouri và Mauri.
Māori - là một dân tộc bản địa người Polynesian thuộc New Zealand. 
Người Māori khởi đầu với những người khai hoang từ miền đông Polynesia, những người đã đến New Zealand như những làn sóng biển bằng những con xuồng Voyage trong khoảng thời gian giữa 1250 và 1300 trước Công nguyên. 
Qua nhiều thế kỷ trong sự cô lập, những người khai hoang Polynesian đã phát triển được một nền văn hóa độc đáo và trở nên được biết là “Māori”, với ngôn ngữ riêng của họ giàu thần thoại, nghệ thuật trình diễn và thủ công ấn tượng.
Những bộ lạc người Māori thời kỳ trên nền tảng người khai hoang đông Polynesia đã được hình thành. Nghề làm vườn hưng thịnh và sau đó là một nền văn hóa chiến binh nổi bật.
Người châu Âu đặt chân đến New Zealdn bắt đầy từ thế kỷ 17 mang lại sự thay đổi rất lớn tới cách sống của người Māori. Người Māori dần dần được thừa nhận trong nhiều khía cạnh văn hóa và xã hội phương Tây. 
Những mối quan hệ ban đầu giữa người Māori và người châu Âu ở mức độ thân tình, và với ký kết Hiệp ước Waitangi trong năm 1840, hai nền văn hóa cùng tồn tại như một phần của một thuộc địa mới của Anh.
Sự nổi dậy nổi lên qua sự tranh chấp bán đất đai đã dẫn tới sự xung đột trong những năm 1860.
Xã hội biến động, hàng thập kỷ xung đột và xuất hiện bệnh dịch lan truyền dẫn tới tàn phá dân số người Māori và dân số đã giảm một cách đột ngột.
Bắt đầu vào thế kỷ 20, dân số Māori đã bắt đầu khôi phục và những nỗ lực để tăng cường sự ổn định trong xã hội New Zealand.
Truyền thống văn hóa người Māori đã phục hồi và một phong trào phản đối nổi lên trong những năm 1960 về những vấn đề của Māori.
Trong một cuộc điều tra dân số năm 2013, đã có khoảng 600.000 người tại New Zealand là người Māori, tăng lên khoảng 15% dân số quốc gia.
Họ là nhóm dân tộc lớn thứ 2 tại New Zealand, sau những người New Zealanders châu Âu (còn được gọi là ("Pākehā")
Thêm vào đó, hơn 120.000 người Māori sống tại Úc.
Ngôn ngữ người Māori còn được biết là Te Reo Māori vẫn đươc sử dụng với một số mức độ khoảng 1/3 tổng dân số. Nhiều người New Zealand sử dụng các từ và thành ngữ Māori. chẳng hạn như "Kia Ora" trong khi nói tiếng Anh. Māori đang hoạt động trong tất cả các lĩnh vực văn hóa và xã hội New Zealand, với đại diện độc lập trong các lĩnh vực như truyền thống, chính trị, thể thao. 

Một hình ảnh hoa văn truyền thống của người Māori - New Zealand

Hình ảnh có liên quan

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

 
Lễ hội ném cam độc đáo tại Italy (10-12-2016) 

Mỗi năm, vào những ngày trước ngày Thứ ba béo (Fat Tuesday) hay Mardi Gras, người dân thị trấn Ivrea sẽ khoác lên mình những bộ trang phục thời Trung cổ và phân chia thành 9 đội khác nhau để tham gia vào một cuộc chiến ném cam náo nhiệt và độc đáo trong suốt 3 ngày liên tiếp.

Mặc dù nguồn gốc của lễ hội không thực sự rõ ràng, tuy nhiên hầu hết người dân nơi đây đều biết đến câu chuyện xảy ra từ thế kỷ 19 về một tên bá tước hung bạo, người đã cố gắng chiếm đoạt cô con gái của một ông chủ cối xay tên là Violetta, nhưng cuối cùng hắn lại bị chính cô gái chuốc rượu say và chặt đầu. Sau cái chết của tên bá tước hung bạo, người dân thị trấn Ivrea đã nổi dậy, xông vào cung điện của hắn. Và ngày nay, lễ hội ném cam thường niên với tên gọi “Trận chiến với những trái cam” (Battle of the Oranges) được coi là để tái hiện cuộc nổi dậy này.
Để tăng tính xác thực cho sự kiện này, một cô gái trẻ sẽ được chọn lựa để đại diện cho Violetta, người đã giết chết tên bá tước, và các đội sẽ được phân chia thành đội hoàng gia và thường dân. Sau ba ngày của “cuộc tàn sát”, một trong số những tướng lĩnh của các đội sẽ kết thúc cuộc chiến này.

Lễ hội “Trận chiến với những trái cam” (Battle of the Oranges) diễn ra vào tháng 2 hàng năm với ý nghĩa để tái hiện cuộc nổi dậy của người dân thị trấn Ivrea lật đổ tên bá tước hung bạo. Ảnh:donnarussomorin.blogspot

Battle-of-Oranges-2-6008-1392006084.jpg

Không khí

Khác với lễ hội ném cà chua La Tomatina, lễ hội này lại mang một ý nghĩa riêng biệt. Cam cũng là một loại đạn “khó nhằn” hơn so với cà chua, vì vậy khi tham gia vào lễ hội độc đáo này, bạn nên chuẩn bị tâm lý cho những vết bầm tím. Như đã được ghi nhận là các vụ chấn thương diễn ra thường xuyên, tuy nhiên đã có các lều sơ cứu được bố trí để đảm bảo sự an toàn cho người tham dự lễ hội.

Địa điểm

Lễ hội diễn ra tại Ivrea, một thị trấn nhỏ bé và xinh xắn tọa lạcdưới chân dãy núi Alps, phía bắc Turin, Italia. Thị trấn này từng là thủ phủ của đế chế La Mã cổ đại. Ngày nay, Ivrea thường được biết đến với lễ hội ném cam đặc biệt này.

Nơi ở

Có rất nhiều khách sạn tại Ivrea và giá dao động trong khoảng 70 Euro một đêm. Tuy nhiên, lễ hội ném cam dần trở nên nổi tiếng nên du khách được khuyến khích là nên đặt phòng ít nhất là 4 tháng trước khi diễn ra lễ hội.

draft-lens21445407module169166-8549-2474

Mặc dù vậy, lễ hội này thường bị chỉ trích bởi số lượng người bị thương và cả lượng bã thải của những trái cam trên khắp đường phố sau cuộc chiến. Ảnh: skycanner

Cách đến

Sân bay gần nhất là sân bay Quốc tế Turin, và sau đó du khách có thể đi tàu hỏa đến Ivrea trên tuyến Turin – Aosta.

Mặc gì

Bạn nên mặc những bộ trang phục thoải mái và không lo bị dính bẩn. Một chiếc mũ màu đỏ cũng là vật không thể thiếu nếu bạn không muốn trở thành mục tiêu cho những người khác ném cam vào mình.

Mặc dù là một lễ hội vô cùng náo nhiệt và độc đáo nhưng cuộc chiến thực phẩm lớn nhất tại Italy này đã tiêu tốn hơn 200.000 kg cam mỗi năm. Hơn thế nữa, lễ hội ném cam này còn bị chỉ trích bởi con số những người bị thương và lượng bã thải của những trái cam trên khắp đường phố.


Nguồn: VnExpress


 
Những nghi lễ đám cưới lạ (10-12-2016) 

 Bắn mũi tên tình yêu trong ngày hôn lễ ở Cam Túc, Trung Quốc

 Trong hoạt động bắn mũi tên thần tình yêu, một người cô gái cưỡi ngựa trắng và một cuộc chiến diễn ra giữa các gia đình dường như sẽ làm hình ảnh lãng mạn, vui nhộn không còn nữa. Nhưng thực tế đó lại là những hoạt động thú vị trong nghi lễ cưới truyền thống của người Yugur ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, thường diễn ra trong 48 tiếng.

Ở nhà mình, cô dâu diện một trang phục lộng lẫy, lấp lánh ánh bạc và điểm xuyết với những hạt ngọc bích, trang sức san hô, vỏ sò, cưỡi trên một con ngựa trắng đến nhà vị hôn phu tương lai của mình. Trong khi đó thì người thân, họ hàng của nàng cũng trên đường đến nhà chú rể để “dẫm đạp và phá hủy” buồng cô dâu do nhà chồng xây lên. Thế là cuộc chiến giữa hai bên gia đình cô dâu và chú rể diễn ra vì đằng nhà trai cũng nỗ lực hết mình để bảo vệ thành quả công sức của họ. Khung cảnh này thực chất mang tính biểu trưng bởi đây là tục lệ mang ý nghĩa rằng chú rể có khả năng bảo vệ người vợ của mình.
Khi “cuộc chiến” kết thúc cũng là lúc cặp đôi trao nhau những lời thề ước trước sự chứng kiến của hai bên gia đình lúc này đã “hòa bình” trở lại. Và cô dâu, chú rể bắn 3 mũi tên (không đầu) trong suốt hôn lễ của mình như một sự đính ước gắn kết trọn đời bên nhau.


Những nghi lễ đám cưới “độc và lạ” nhất trên thế giới



Vấy bẩn người cô dâu, chú rể ở Scotland

Vấy bẩn người cô dâu, chú rể ở Scotland

Ở Scotland, xứ sở vốn nổi tiếng với những khung cảnh và con người nghiêm nghị thì truyền thống trước lễ cưới làm vấy bẩn lên người cô dâu, chú rể bằng mật đường, bùn và các loại nước sốt có vẻ không mấy ngạc nhiên. Trước khi đến hôn lễ trọng đại, bạn bè của cô dâu, chú rể tập trung làm bẩn lên khắp người cặp đôi sắp cưới và sau đó buộc họ vào cây hoặc diễu hành trên khắp đường phố như để thông báo rằng họ sẽ bị ràng buộc với nhau khi sắp thành vợ chồng.

Cô dâu chú rể bị cấm tắm, đảo Borneo

Cô dâu chú rể bị cấm tắm, đảo Borneo

Phong tục đám cưới của người Tidong ở phía Đông Bắc bán đảo Borneo, thuộc chủ quyền của ba nước Brunei, Indonesia và Malaysia hết sức kỳ lạ. Ví như trong ngày cưới chú rể chỉ có thể được xem bóng cô dâu đang tắm sau lớp che. Sau màn chứng kiến từ xa này, chàng rể mới được nhìn thấy cô dâu của mình và lễ cưới được tiến hành. Nhưng kỳ quặc hơn là sau lễ cưới, cặp đôi sẽ bị cấm sử dụng nhà tắm, nhà vệ sinh trong vòng ba ngày. Những người không thuộc nhóm văn hóa này sẽ thực sự ngạc nhiên, nhưng người Tidong quan niệm rằng nếu cô dâu, chủ rể gặp nhau ở toilet trong 72 tiếng đó sẽ khiến cuộc hôn nhân sau này bị thất bại.

Lấy trộm giày trong lễ cưới người Ấn Độ

Lấy trộm giày trong lễ cưới người Ấn Độ

Như một tục lệ, trong suốt đám cưới, chú rể phải cởi bỏ đôi giày của mình khi trao lời ước hẹn với cô dâu. Tại khoảnh khắc đó chị em gái hoặc anh, chị em họ của cô dâu thể hiện niềm vinh dự khi tham gia vào hoạt động “nghệ thuật” lấy trộm đôi giày đó và dấu chúng đi. Việc này không đơn giản bởi họ sẽ gặp khó khăn khi gia đình chú rể luôn tìm cách bảo vệ chúng, nhưng thường thì gia đình cô dâu sẽ thành công và những chú rể “không giày” sẽ xin lại chúng từ gia đình vợ bằng tiền hoặc thể hiện sự thiện chí.

Đỗ Quyên

Nguồn: Dân trí
Theo allthatisinteresting

 
Những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn” (02-12-2016) 

 Một nhiếp ảnh gia đã mất 3 năm để chụp những bức ảnh về các bộ tộc ít người trên khắp thế giới trước khi họ… “biến mất vĩnh viễn”.

Trong 3 năm, nhiếp ảnh gia Jimmy Nelson đã tới những nơi hẻo lánh nhất thế giới để thăm 35 bộ lạc thổ dân sinh sống trên 5 lục địa. Sau khi thực hiện chuyến hành trình ý nghĩa này, nhiếp ảnh gia người Anh Jimmy Nelson sẽ cho ra mắt cuốn sách ảnh “Before They Pass Away” (Trước khi họ biến mất).

Cuốn sách đối với Nelson là một bộ sưu tập những khuôn hình đẹp về những nền văn hóa cổ xưa, giờ tồn tại mong manh “như ngọn nến trước gió” bởi tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa đã gần như không bỏ sót một vùng đất nào.

Sớm muộn những con người này sẽ hòa nhập vào cuộc sống “văn minh hiện đại” và những nét văn hóa truyền thống thuần chất của họ sẽ bị phai nhạt hoặc lai tạp. Vì vậy, đối với Jimmy, những bức hình này không chỉ là các tác phẩm nhiếp ảnh mà còn là dữ liệu văn hóa - lịch sử.

Hình ảnh về những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn”
Người Tsaatan sống ở miền Bắc Mông Cổ - một bộ lạc du mục. Cuộc sống và sinh hoạt của họ có mối liên hệ chặt chẽ với loài tuần lộc. Sinh sống trong những cánh rừng taiga hẻo lánh và lạnh lẽo (nhiệt độ có khi xuống -50°C), người Tsaatan tồn tại nhờ chăn thả tuần lộc.

Hình ảnh về những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn”
Trong suốt hàng ngàn năm, người Tsaatan đã quen với việc sinh sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của vùng núi, họ di chuyển liên tục, nhà của họ là những căn lều dựng tạm.

Hình ảnh về những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn”
Người Kazakh sinh sống ở khu vực Bắc Trung Á (gồm các nước Kazakhstan, Uzbekistan, Trung Quốc, Nga, Mông Cổ). Trong hơn 200 năm qua, những người đàn ông Kazakh kiếm ăn bằng cách săn bắn trên lưng ngựa. Người đồng hành trung thành và hiệu quả của họ là những con đại bàng lông vàng đã được thuần dưỡng.

Hình ảnh về những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn”
Người Kazakh sống ở Mông Cổ. Trong hơn 200 năm qua, những người đàn ông Kazakh sinh sống và kiếm ăn bằng cách săn bắn trên lưng ngựa. Ngoài ra, họ còn chăn nuôi rất giỏi, thường chăn thả những đàn gia súc lớn trên thảo nguyên.

Hình ảnh về những tộc người sắp... “biến mất vĩnh viễn”
Người Mursi là một tộc người du mục, sinh sống bằng nghề chăn thả gia súc ở đất nước Ethiopia (thuộc Châu Phi).

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Những đứa bé trong bộ tộc Mursi.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Cuộc sống của người Mursi không thay đổi nhiều trong suốt hàng trăm năm qua. Họ sống rất đơn giản: đàn ông săn bắn, phụ nữ hái lượm, chăn nuôi gia súc và trồng cao lương.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Phụ nữ người Mursi có tục lệ kéo môi, theo đó, từ khi còn nhỏ, môi dưới của họ đã bị… khoét, sau đó, họ nhét vào một chiếc đĩa gốm nhỏ, dần dần, kích cỡ chiếc đĩa được nâng lên. Hiện giờ, người Mursi là một trong những bộ tộc cuối cùng trên thế giới còn duy trì tục lệ này. Những cô gái trẻ người Mursi giờ đây đã không còn thực hiện tục lệ này nữa.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Omo cho đến nay vẫn theo tôn giáo vật linh, họ thờ những hòn đá, gốc cây và tin rằng những vật linh này có linh hồn trú ngụ.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Huli nổi tiếng với những món đồ trang trí ở đầu, được làm từ chính tóc của họ. Người Huli sinh sống nhiều ở đất nước Papua New Guinea (thuộc Châu Đại Dương).

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Gauchos ở Argentina là một bộ tộc du mục, họ sống trên lưng ngựa, rong ruổi khắp các thảo nguyên. Bộ tộc Gauchos bắt đầu hình thành từ thế kỷ 18.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Gaucho nổi tiếng với lối sống tự do, phóng khoáng. Những người đàn ông Gaucho giỏi săn bắn, chiến đấu thiện xạ và cũng rất lãng mạn, họ biết chơi đàn và ca hát.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Lo sinh sống ở vương quốc Mustang, một vương quốc nhỏ nằm trên cao nguyên Thanh Tạng, giáp với Nepal, Tây Tạng. Vùng cao này có khí hậu rất khắc nghiệt. Giờ đây, Mustang là một trong những “thành trì” cuối cùng của nền văn hóa thuần Tây Tạng. Người Lo theo đạo Phật, họ rất sùng đạo, việc cầu nguyện hằng ngày và những lễ hội tôn giáo đã tạo thành một phần quan trọng trong cuộc sống của họ.

Những đứa bé
trong bộ tộc Mursi.
Người Lo cho đến nay vẫn duy trì cách thức tổ chức gia đình theo kiểu truyền thống: người con trai trưởng có quyền thừa kế tất cả tài sản, người con trai thứ sẽ được gia đình đem tặng cho các tu viện khi đứa trẻ được 6-7 tuổi.

Nhiếp ảnh gia Jimmy Nelson hy vọng với cuốn sách ảnh “Trước khi họ biến mất”, thế giới sẽ dành nhiều sự quan tâm hơn cho những bộ tộc thiểu số cuối cùng còn sót lại. Những bộ tộc này cần phải được giúp đỡ để có cuộc sống ổn định hơn nhưng đồng thời họ cũng phải được bảo vệ để giữ gìn nét văn hóa truyền thống của mình.

Nhiếp ảnh gia Jimmy Nelson chia sẻ: “Dự án nhiếp ảnh của tôi nhằm mục đích nhấn mạnh cá tính văn hóa của những bộ tộc ít người. Trong mắt những con người hiện đại, đây là những con người lạc hậu, kém phát triển nhưng thực sự họ đang nắm giữ những giá trị quý báu mà thế giới này hầu như đã đánh mất cùng với những cuộc công nghiệp hóa”.

Thế giới này đang thay đổi từng ngày, không ai có thể ngăn quá trình hiện đại hóa đó chạm tới những vùng quê dù xa xôi, hẻo lánh nhất nhưng Jimmy Nelson hy vọng những nền văn minh tiên tiến sẽ biết cách trân trọng, bảo vệ những nền văn minh cổ hiếm hoi còn sót lại.

Người Maori sinh
sống ở New Zealand từ thế kỷ 13, họ nổi tiếng là bộ tộc gan dạ và thông minh.
Người Maori sinh sống ở New Zealand từ thế kỷ 13, họ nổi tiếng là bộ tộc gan dạ và thông minh.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Một cô gái người Maori ở New Zealand.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Người Chukchi là một tộc người cổ sống ở vùng Bắc Cực, thuộc bán đảo Chukotka của Nga. Họ có hai nhóm chính: nhóm sống du mục, chuyên chăn thả tuần lộc, được gọi là Chauchu; nhóm chuyên đi săn các loài động vật biển, sống dọc bờ Bắc Băng Dương, biển Chukchi và biển Bering, được gọi là Ankalyn.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Tộc người Himba bắt đầu tồn tại từ thế kỷ 16, họ sinh sống dọc con sông Kunene ở miền Tây Bắc Namibia và miền Tây Nam Angola.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Dù đã được hưởng những thành tựu của nền văn minh hiện đại như điện lưới, nước sạch nhưng người Himba vẫn tiếp tục duy trì tốt những nét văn hóa truyền thống của mình.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Những người phụ nữ Himba đi bộ trên sa mạc Namib. Họ thường bôi một hợp chất được tạo thành từ bơ động vật và đất hoàng thổ lên da để bảo vệ da khỏi cái nắng bỏng cháy của sa mạc.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Người Ladakh sống ở vùng núi cao giữa dãy Himalaya và Karakoram thuộc miền Bắc Ấn Độ. Người Ladakh có nhiều nét tương đồng về tôn giáo với người Tây Tạng.

Đối với những bộ tộc mà Jimmy Nelson đã tới thăm, anh nhận thấy rằng dù họ có sự khác biệt về tôn giáo, trang phục, lối sống nhưng điểm tương đồng cũng rất nhiều: “Những người trong cùng một bộ tộc luôn biết đoàn kết với nhau, họ phân chia công việc rõ ràng. Người già vì cả cuộc đời đã lao động nên được nghỉ ngơi và nhận được sự tôn trọng của cả bộ tộc. Những người trẻ sống với nhau thân tình. Họ thực sự là những con người tử tế”.

Là một nhiếp ảnh gia từng có những năm tháng tuổi thơ sinh sống ở 3 châu lục - Á, Mỹ, Phi, nhiếp ảnh gia người Anh Jimmy Nelson dễ dàng có được sự thấu hiểu đối với những nền văn hóa xa lạ mà anh tiếp cận.

Jimmy Nelson đã hứa với những người đồng ý xuất hiện trong cuốn sách ảnh này rằng, khi nào sách ra mắt, anh sẽ mang sách đến cho họ được xem hình ảnh in màu trên giấy trông sẽ thế nào. Giờ đây, khi cuốn sách đã được xuất bản, Nelson chuẩn bị thực hiện chuyến hành trình quay lại như đã hứa.

Một cô gái người
Maori ở New Zealand.
Người Maasai sống ở miền Nam Kenya và miền Bắc Tanzania - những nơi rất khô cằn. Họ sống du mục, tìm đến những nơi có nguồn nước dồi dào để chăn thả gia súc và sinh sống một thời gian rồi lại chuyển đi khi nước đã cạn.

Người Maasai đo
độ giàu có của một gia đình bằng số lượng gia súc mà họ có.
Người Maasai đo độ giàu có của một gia đình bằng số lượng gia súc mà họ có.

Người Maasai đo
độ giàu có của một gia đình bằng số lượng gia súc mà họ có.
Người Ni-Vanuatu sinh sống ở khu vực quần đảo Vanuatu gồm 83 hòn đảo lớn nhỏ nằm ở khu vực Tây Nam Thái Bình Dương.

Người Maasai đo
độ giàu có của một gia đình bằng số lượng gia súc mà họ có.
Ở quần đảo Vanuatu có nhiều nhóm dân cư đa dạng sinh sống. Mỗi nhóm lại có ngôn ngữ riêng, phong tục tập quán riêng. Theo thống kê, ở đây có tới hơn 100 ngôn ngữ.

Người Ni-Vanuatu
có những cách bắt cá đa dạng.
Người Ni-Vanuatu có những cách bắt cá đa dạng.

Người Ni-Vanuatu
có những cách bắt cá đa dạng.
Bộ tộc Dani và Yali sinh sống ở thung lũng Baliem thuộc vùng núi Jayawijaya, tỉnh Papua, Indonesia. Họ sống trên những bình nguyên có độ cao 1.600m so với mực nước biển.

Người Ni-Vanuatu
có những cách bắt cá đa dạng.
Người Drokpa với dân số khoảng 2.500 người, sinh sống ở thung lũng Dha-Hanu thuộc bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ.

Người Drokpa sống
ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan.
Người Drokpa sống ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan.

Người Drokpa sống
ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan.
Thế giới hiện nay còn khoảng 5,5 triệu người Tây Tạng. Họ là một tộc người có nền văn hóa phát triển với lịch sử hình thành lên tới 4.000 năm.

Người Drokpa sống
ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan.
Người đàn ông Nenet sống ở vùng Bắc Cực, thuộc khu vực Siberia của Nga. Giống như nhiều bộ tộc du mục sinh sống ở vùng cực, họ chăn thả tuần lộc.

Người Drokpa sống
ở vùng biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan.
Người Huaorani sinh sống trong rừng Amazon với số dân khoảng 2.000 người. Đất đai của họ hiện đang bị thu hẹp dần vì những công ty khai thác dầu mỏ và khai thác gỗ đã tìm đến đây.

DT

 
Hôn lễ của hoàng hậu cuối cùng Trung Quốc (10-12-2016) 

Quy tắc tấn phong hoàng hậu của nhà Thanh vốn rất chặt chẽ, nhưng vì đã vào thời điểm triều đại phong kiến sắp thoái trào nên hôn lễ của Hoàng hậu Uyển Dung và Hoàng đế Phổ Nghi đơn giản hơn và để lại nhiều tiếc nuối.

Uyển Dung là hoàng hậu cuối cùng của Trung Quốc. Kể từ tháng 12/1922 vào cung đến khi bà cùng Hoàng đế Phổ Nghi bị Phùng Ngọc Tường tống ra khỏi cung vào tháng 11/1924, chỉ sống ở Tử Cấm Thành vẻn vẹn có hai năm.

Uyển Dung kết hôn vào ngày 1/12/1922, lúc này cả bà và Phổ Nghi đều chỉ mới 17 tuổi. Lễ kết hôn của Hoàng đế nhà Thanh được gọi là Đại hôn lễ. Tuy lúc này nhà Thanh đã bị lật đổ 11 năm, nhưng do những ưu đãi dành cho hoàng thất, Phổ Nghi vẫn giữ tôn danh Hoàng đế, và tiếp tục ở lại Tử Cấm Thành. Trong đám cưới lần này, ngoài Hoàng hậu Uyển Dung còn có Thục phi Văn Tú cũng được đón vào cung.

Quá trình lựa chọn Hoàng hậu rất khó khăn. Theo quy định của nhà Thanh, Hoàng hậu phải là dòng dõi vua chúa nhà Mãn, do đó rất nhiều "ứng cử viên" không phải là người Mãn đều bị tế nhị từ chối. Trên bàn của hoàng thúc của vua Phổ Nghi được cho là để đầy các ảnh các cô gái trẻ, nhiều đến mức có thể đóng thành quyển.

Trong hàng loạt các cô gái muôn vàn màu sắc ấy, sau khi kén chọn qua nhiều vòng, cuối cùng cũng chọn ra được 4 "ứng cử viên" cho vị trị Hoàng hậu. Sau khi cân nhắc lần nữa, họ đã chọn ra được hai người xứng đáng nhất là Uyển Dung và Văn Tú.

Hoàng hậu chỉ có một, nên chọn Uyển Dung hay chọn Văn Tú? Trong cung mọi người tranh cãi quyết liệt, nhất là các Thái phi, ai cũng muốn nhà vua lấy người mình lựa chọn để củng cổ thế lực của mình trong cung. Cứ tranh cãi nhau mãi không ai chịu ai, cuối cùng đành để cho vua Phổ Nghi ra "phán quyết cuối cùng".

Phổ Nghi sau khi xem ảnh của Uyển Dung và Văn Tú, đã chọn Uyển Dung làm Hoàng hậu còn Văn Tú làm Thục phi. Trong dân gian lan truyền tin đồn rằng bố của Uyển Dung đã bỏ ra 20 vạn lạng vàng để mua chức hoàng hậu cho con gái.

Lễ nghi đám cưới Hoàng hậu được tiến hành theo lệ cũ của nhà Thanh, gồm bốn lễ: Lễ Nạp thái, lễ Đại chinh, lễ Sách lập và Đại lễ. Lễ Nạp thái có ý nghĩa như lễ đính hôn, được tiến hành vào ngày 21/10/1922, vua Phổ Nghi sai sứ thần dẫn theo một ngàn người và hơn 100 kiệu lễ vật đến nhà Uyển Dung ở ngõ Ngoại Mạo, khu Địa An Môn, Bắc Kinh, dâng lễ.

Trong hai tháng tiếp theo lần lượt cử hành lễ Đại chinh và lễ Sách lập. Lễ Đại chinh là lễ thông báo cho nhà gái ngày cưới chính thức, còn lễ Sách lập là ngày chính thức phong danh vị Hoàng hậu.

Hôn lễ của Hoàng hậu Uyển Dung có một điều đáng tiếc. Đó là theo thông lệ của nhà Thanh, cho dù nhà Hoàng hậu ở phía nào của kinh thành thì đoàn lễ rước Hoàng hậu cũng phải đi qua Đại Thanh Môn, rồi từ cửa chính của Tử Cấm Thành là Ngọ Môn tiến vào cung. Đại Thanh Môn lúc bình thường chỉ có Hoàng thái hậu và Hoàng đế có thể ra vào tự do, còn những người khác đều không được đi qua đây, đến Hoàng hậu cũng chỉ có ngày Đại hôn mới được đi qua một lần duy nhất trong đời.

Vậy mà Uyển Dung không được hưởng vinh dự này, bà vào cung không đi qua cổng Đại Thanh Môn, mà cũng không qua Ngọ Môn. Bà được rước vào từ cổng Đông Hoa Môn vào cung. Có thể thấy, Hoàng hậu vào thời đại triều đình suy yếu này vẫn khác với Hoàng hậu thực sự của nhà Đại Thanh.

Lúc này vua Phổ Nghi thực ra đã là nhà vua thoái vị, tuy được cho phép ở lại trong cung, nhưng cổng Càn Thanh và phía nam của nó đã thuộc quyền cai quản của chính phủ Bắc Dương, do vậy cũng không thể cầu kỳ được như trước nữa.

Các vua đời trước của nhà Thanh đã lập 24 hoàng hậu, Uyển Dung là hoàng hậu thứ 25 của nhà Thanh và cũng là hoàng hậu cuối cùng của Trung Quốc.

Hoàng đế và Hoàng hậu cuối cùng của Trung Quốc



Hoàng đế và Hoàng hậu cuối cùng của Trung Quốc. Ảnh: Baidu


Tên tiếng Anh của Hoàng hậu là Elizabeth

Hoang-hau-dap-xe-Ha-My-baidu-5344-138079

Hoàng hậu Uyển Dung đạp xe trong Tử Cấm Thành. Ảnh: Baidu

Uyển Dung lớn lên trong thời kỳ dân quốc, từ nhỏ chịu ảnh hưởng của người bố làm kinh doanh, và giáo dục phương Tây. Trong Tử Cấm Thành, Uyển Dung và Phổ Nghi thường xuyên cùng nhau đạp xe và đánh bóng. Uyển Dung còn cầm tay Phổ Nghi dạy cách ăn đồ Tây. Phổ Nghi và Uyển Dung, Văn Tú, những chủ nhân của triều đình nhỏ, còn chụp rất nhiều ảnh ở trong cung, lưu lại những hình ảnh của họ.

Trong hồ sơ của Phổ Nghi còn có rất nhiều mẩu tin nhắn tiếng Anh Uyển Dung viết gửi cho Phổ Nghi. Hai người họ ngày nào cũng gặp nhau mà còn truyền tin nhắn cho nhau, chứng tỏ tình cảm hai người rất thắm thiết. Để học tiếng Anh, Uyển Dung còn mời hai cô giáo người Mỹ vào cung dạy bà học. Văn Tú cũng học tiếng Anh, chỉ có điều bà không mời cô giáo Mỹ mà mời cô giáo Trung Quốc đến dạy.

Hồi đó, Uyển Dung còn có tên tiếng Anh là Elizabeth, còn tên tiếng Anh của Phổ Nghi là Henry. Trào lưu Âu hóa đã xâm nhập vào cuộc sống của triều đình cuối cùng của Trung Quốc.

Ngày 5/11/1924, quân đội của Phùng Ngọc Tường tiến vào Tử Cấm Thành, ép Phổ Nghi chấp nhận "điều kiện ưu đãi" đã sửa đổi và bắt ông rời khỏi cung ngay trong ngày.

Mọi người trong cung náo loạn, Phổ Nghi hai tay chống cằm, không nói năng gì, còn Văn Tú bất lực nói: "Chuyển đi cũng tốt, đỡ phải ở đây lo sợ ngày đêm!", chỉ có thái độ của Uyển Dung là rất cương quyết, bà hét lên: "Dù sao thì tôi cũng quyết tâm rồi, hôm nay không chuyển, không thể chuyển được".

Nhưng cho dù có muốn chuyển hay không, chiều hôm đó, Hoàng đế Phổ Nghi vẫn phải đem theo Uyển Dung và gia quyến rời khỏi Tử Cẩm Thành. Vị vua cuối cùng của Trung Quốc Phổ Nghi cùng Hoàng hậu cuối cùng của Trung Quốc đã vĩnh viễn rời khỏi Tử Cẩm Thành một cách bất đắc dĩ như vậy.

Nguồn VN (Theo Xinhua)

 
Tảo hôn - truyền thống hay hủ tục? (10-12-2016) 

Một bé gái 5 tuổi bị gọi dậy trong đêm để làm... lễ cưới. Một bé gái 10 tuổi "dám" ly hôn gây sửng sốt... Mỗi bức ảnh dưới đây đều là một câu chuyện không thể tin về sự khủng khiếp của nạn tảo hôn đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nạn tảo hôn không xảy ra ở riêng một lục địa, ngôn ngữ, tôn giáo hay đẳng cấp nào. Ở Ấn Độ, các bé gái thường được gả cho những bé trai lớn hơn 4-5 tuổi. Ở Yemen, Afghanistan và một số nước khác có tỉ lệ tảo hôn cao, người chồng có thể là một người đàn ông trẻ tuổi nhưng cũng có thể là những người đàn ông góa vợ ở tuổi trung niên hoặc thậm chí là những kẻ bắt cóc, cưỡng hiếp cô gái trước rồi sau đó được quyền tuyên bố nạn nhân là vợ mình. Đó cũng là những gì đang diễn ra tại một số vùng ở Ethiopia.

Một số trường hợp tảo hôn thực chất là những thương vụ, đi kèm với những điều kiện phụ thêm: một món nợ sẽ được xóa bằng cách gả đi cô con gái 8 tuổi, cuộc xung đột giữa hai gia đình, hai dòng họ được giải quyết bằng việc gả đi cô cháu gái 12 tuổi… Những câu chuyện như thế khiến người ta sửng sốt.

Câu chuyện từng được biết tới hồi năm 2008 về một cô bé có tên Nujood Ali, một cô bé người Yemen 10 tuổi đã bỏ nhà đi, một mình tìm đường tới tòa án trên thành phố để đòi ly hôn một người đàn ông ngoài 30 mà gia đình đã buộc em phải lấy.

Câu chuyện này đã từng được báo chí nhiều nước đưa tin và sau đó một cuốn sách viết về em – “I am Nujood, Age 10 and Divorced” (Tôi là Nujood, 10 tuổi và đã ly hôn) ra đời. Ngay lập tức cuốn sách được dịch ra 30 thứ tiếng.

Dưới đây là một số bức ảnh được nhiếp ảnh gia Stephanie Sinclair của tờ National Geographic thực hiện trong những chuyến đi thực tế về nạn tảo hôn:

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
“Khi cháu nhìn thấy ông ấy, cháu trốn đi. Cháu ghét phải nhìn thấy ông ấy”, cô bé Tahani (mặc váy hồng) nhớ lại những ngày đầu tiên khi mới kết hôn với Majed, khi đó Tahani 6 tuổi và Majed 25 tuổi. “Người vợ trẻ” chụp bức ảnh này với một cô bạn cũ – cô bé Ghada, cũng là một “cô vợ trẻ” khác trên vùng núi Hajjah, Yemen.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Sau khi tổ chức lễ cưới với một số họ hàng, hai cô dâu người Yemen, Sidaba và Galiyaah được đưa tới nhà chồng. Một nhà hoạt động xã hội ở Yemen cho biết: “Một số cô gái ở vùng nông thôn cho rằng hôn nhân là cứu cánh giúp họ thoát khỏi sự kiểm soát của gia đình”.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Nhóm các cô vợ trẻ trong một ngôi làng ở miền tây Yemen này thật yên lặng và nhút nhát. Các cô bé chẳng nói gì cho tới khi được hỏi về chuyện học hành. Đa số các cô đều kết hôn trong độ tuổi từ 14-16 và chưa từng được đến trường nhưng tất cả đều nói rằng họ vẫn hy vọng sẽ được học hành.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Asia, một người mẹ trẻ 14 tuổi ở Hajjah, Yemen đang tắm cho cô con gái nhỏ, trong khi đó, cô con gái 2 tuổi của Asia đang ngồi chơi ngoan ngoãn bên cạnh. Asia bị mắc một số bệnh hậu sản nên rất gầy yếu, cô cho biết chưa từng được đến trường và cũng không được tiếp cận với bất cứ nguồn thông tin nào về cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Khi Nujood Ali 10 tuổi, cô bé đã chạy trốn khỏi người chồng bạo hành và già hơn cô bé hàng chục tuổi. Nujood đã bắt một chiếc taxi để tới tòa án ở Sanaa, Yemen và đòi ly hôn. Hành động dũng cảm của cô bé và cuộc chiến pháp lý diễn ra sau đó đã khiến Nujood trở thành một “nữ anh hùng” được cả thế giới biết đến vì đã dám đứng lên giành lại tự do cho cuộc đời mình. Giờ đây khi đã ly hôn, em quay về nhà sống với gia đình và lại được đến trường đi học.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Nữ cảnh sát ở thành phố Kandahar, Afghanistan – cô Malalai Kakar vừa bắt giữ một người đàn ông liên tục đâm dao vào vợ mình, một cô gái 15 tuổi vì cô không nghe lời ông ta. Khi được hỏi điều gì sẽ xảy ra đối với người đàn ông này, nữ cảnh sát Kakar trả lời: “Chẳng có gì xảy ra cả. Ở đây đàn ông là những ông vua nhỏ”. Nữ cảnh sát Kakar sau này đã bị giết bởi quân Taliban.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Lúc nửa đêm, em Rajani 5 tuổi bị đánh thức dậy và được bác bồng tới đám cưới dành cho em. Vì tảo hôn là bất hợp pháp tại Ấn Độ nên những nghi lễ như thế này thường được tổ chức vào ban đêm và nó sẽ trở thành một bí mật được cả làng giữ kín.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Rajani và chú rể của em chẳng buồn nhìn nhau khi hai đứa trẻ được tổ chức hôn lễ. Theo truyền thống, cô dâu sẽ vẫn ở nhà cho tới khi đến tuổi dậy thì, một buổi lễ thứ hai sẽ chính thức đưa cô về ở với chồng.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Dù kết hôn sớm là một tục lệ ở ngôi làng nhỏ thuộc đất nước Nepal nhưng cô gái 16 tuổi Surita không chấp nhận, cô gào khóc phản đối khi người ta đưa cô rời khỏi nhà bố mẹ trên một chiếc xe ngựa kéo để về nhà chồng.

Những hình ảnh khó tin về nạn tảo hôn
Khi bố mẹ của cô bé Sunil định sắp xếp cho em một đám cưới lúc Sunil mới 11 tuổi, cô bé đã dọa sẽ đi báo cảnh sát. Cha mẹ đành thôi và hiện giờ Sunil 13 tuổi, em vẫn đang được tiếp tục đi học ở bang Rajasthan, Ấn Độ. Giờ đây mẹ em đã có suy nghĩ khác, bà nói rằng: “Học hành sẽ cho con bé sức mạnh để chống lại những bất công trong cuộc sống.”

 

Nguồn: Dân trí

 
Rơ Ngao - người con gái phải kiếm được 100 bó củi để cưới chồng (10-12-2016) 

Những cô gái khi đến tuổi cập kê, muốn cưới được một người chồng khỏe mạnh, tài giỏi và đẹp trai, bắt buộc phải chuẩn bị đủ 100 bó củi để …tỏ tình.

Muốn có củi, những cô gái chân yếu tay mềm phải băng đèo lội suối, vào tận trong rừng sâu thăm thẳm để chặt củi gùi về nhà chất thành đống. Sau nhiều năm liền, khi số lượng củi đã đủ để ra mắt nhà chồng, cô gái sẽ đem sính lễ này sang biếu bố mẹ chồng trước một ngày "bắt" chàng về dinh.
 
Sính lễ hứa hôn đặc biệt

Dòng sông hiền hòa, thơ mộng của xã Pô Cô, huyện Đắk Tô, Kon Tum, một ngày nắng giữa tháng ba đã đưa chân chúng tôi về làng Tu Peng, ngôi làng chất cao ngút mắt những đống củi dẻ thẳng tắp, đều và rất đẹp của những cô gái đang đến tuổi cập kê. Để có được những đống củi to cao, thẳng tắp và đẹp như vậy trước nhà mình, người con gái ấy đã phải vất vả biết bao, vì đó là thành quả có được từ mồ hôi, công sức của họ trong nhiều năm liền. Trong bất kỳ một gia đình nào đó của cộng đồng người Rơ Ngao sinh sống nơi đây, khi cô con gái trong nhà gần đến tuổi lập gia đình, bản thân cô gái ấy bắt buộc phải đi kiếm củi để dành.  

Mục đích xếp củi trước nhà của người dân Rơ Ngao chính là để khoe sự giỏi giang, chịu thương chịu khó của con gái họ. Tình yêu của các cô gái khi chớm nở chính là lúc, họ mang trên lưng mình một chiếc gùi bằng tre, nứa để bắt đầu cho hành trình đi kiếm củi xây dựng hạnh phúc gia đình. Thời gian này, cô gái phải cật lực và không quản vất vả khó khăn, đi vào rừng sâu hun hút để chặt những cây củi to đẹp mang về chất trước nhà mình để thể hiện tình yêu với chàng trai.

Theo luật tục của người Rơ Ngao, củi hứa hôn của người con gái bắt buộc phải là củi lấy từ cây dẻ khỏe mạnh. Vì củi của cây dẻ săn chắc nên rất đượm, đặc biệt củi dẻ thẳng và suôn nên rất thích hợp với việc nấu nướng và sưởi ấm". Nếu người con gái nào lấy củi từ cây dẻ bị cụt ngọn, thì đó sẽ là điềm xấu cho hôn nhân sau này. Chính vì vậy, khi đi kiếm củi hứa hôn, dù vất vả mấy, các cô gái cũng không bao giờ chặt những cây dẻ xấu xí hay bị cụt ngọn. Ngoài ra, củi hứa hôn phải tuân thủ đúng quy định như: mỗi thanh củi phải có chiều dài từ 70-80cm, thanh củi phải thẳng, chắc, tất cả vỏ ngoài phải được lột sạch sẽ, đầu của mỗi thanh củi phải được chặt bằng hoặc nhọn tất cả.

Chính vì những quy định khắt khe này, nên mỗi người con gái mới lớn đều phải chịu rất nhiều hiểm nguy, vất vả trong thời gian dài để vào rừng kiếm đủ củi mới lấy được chồng. Người Rơ Ngao coi đó như thời gian thử thách khó khăn nhất cho tình yêu của người con gái dành cho người con trai mình yêu. Khi đã đủ 100 bó củi, các cô gái tự hào đem ra chất trước nhà để khoe về đức hạnh của mình trước khi đi "bắt" chồng.

Lạ kỳ nơi thiếu nữ phải kiếm 100 bó củi mới được lấy chồng  2

Khi biết yêu, những cô gái làng Tu Peng phải băng đèo, lội suối gùi cả trăm bó củi như thế này trên vai.

Độc chiêu mang củi đi… tỏ tình

Già làng A Hanh (72 tuổi) cho biết: Nếu đống củi của người con gái nào được chất cao, đều và vuông vắn thì chứng tỏ đó là một cô gái khỏe mạnh, giỏi giang và tháo vát. Nếu hai đầu của cây củi được đẽo đều, sắc sảo và đẹp mắt thì đó là tín hiệu cho biết người con gái ấy có đôi bàn tay vô cùng khéo léo. Được cả hai điều đó, thì cô gái ấy sẽ được mọi người đánh giá là người có hình thức đẹp và có một tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ.

Khi một cô gái sở hữu đống củi đẹp đi "bắt" chồng, thì chắc chắn sẽ được chồng và cha mẹ chồng hết mực yêu thương và tôn trọng. Trái lại, với những cô gái nếu có quá ít củi mà đã đi "bắt" chồng thì nguy cơ "bắt" hụt là điều khó tránh khỏi. Dù được chàng trai đồng ý, mà khi gia đình chàng trai tìm hiểu biết được cô gái có ít củi thì cha mẹ của chàng trai thường sẽ không chấp nhận cho con trai mình về làm rể gia đình có con gái làm biếng đi kiếm củi.

Nhìn đống củi người ta sẽ biết được chủ nhân của nó sẽ là một cô đảm đang, cần cù, cẩn thận và chịu khó, hay chỉ là một cô gái vụng về, hời hợt. Người dân ở làng Tu Peng cho rằng, cô gái nào đã đến tuổi cập kê mà có quá ít củi, thì chứng tỏ cô gái ấy không phải là người siêng năng. Điều đó cũng nói lên rằng, cô ta không quan tâm đến chuyện vun vén cho cho hạnh phúc của một gia đình. Những cô gái như vậy khi có chồng sẽ rất làm biếng, mọi việc sẽ phó thác hết cho người chồng.

Đến khi về làm vợ, cô gái ấy sẽ thiếu đi sự chịu khó, đảm đang và sự hy sinh cần thiết của một người mẹ. Những người con gái như vậy trong làng Tu Peng cũng có nhưng rất ít. Cũng có trường hợp, một số cô gái khi "dạm hỏi" để cưới chàng trai, được chàng và cha mẹ chàng đồng ý. Thế nhưng, đến khi cô gái đem củi qua tặng cha mẹ chồng làm của hồi môn mà ít quá, thì gia đình chàng trai sẵn sàng "trả lễ".
 
Lạ kỳ nơi thiếu nữ phải kiếm 100 bó củi mới được lấy chồng  3

Già A Hanh tự hào về người con dâu vì cô đã kiếm được đống củi vừa đẹp vừa nhiều cho bố mẹ chồng đun trong nhiều năm mà vẫn chưa hết.

Luật tục thời… hiện đại

Già làng A Hanh cũng cho biết thêm, trước đây khi rừng còn nhiều cây cối, người con gái phải một mình vào rừng kiếm củi dẻ. Nếu người con trai nào mà đi kiếm củi giúp người con gái, làng phát hiện thì sẽ bị phạt vạ. Còn bây giờ, khi rừng đã bị tàn phá nhiều, để kiếm được củi cho nhà chồng, người con gái phải vào tận rừng sâu mới kiếm được củi, thời gian sẽ rất lâu. Thế nên, làng đã quyết định ra một "luật" mới, đó là người con gái có thể mượn bất cứ ai trong làng đi kiếm củi giúp mình. Củi cũng không nhất thiết phải là của cây dẻ như trước đây mà chỉ cần cây củi tròn đẹp và thẳng là được.

Hiện nay, người con gái nào đã có người yêu gần cưới mà có ít củi thì chỉ cần mượn người dân trong làng cùng vào rừng kiếm củi giúp. Họ sẽ kiếm củi liên tiếp nhiều ngày cho người con gái. Khi củi kiếm được đã đủ 100 bó, hai bên gia đình sẽ tổ chức lễ ăn hỏi và người con gái sẽ mang hết củi đến gia đình nhà chồng. Dựng nhà xếp củi thật ngay ngắn và chờ gia đình nhà chồng tổ chức đám cưới. Để đáp lại sự vất vả của người con gái khi kiếm củi, bố mẹ chồng sẽ tổ chức đám cưới thật linh đình cho con trai và con dâu với hàng chục ghè rượu, gà, vịt, heo và những lễ vật khác để tổ chức ăn mừng. Tùy theo điều kiện kinh tế, mỗi gia đình sẽ tổ chức đám cưới cho phù hợp.

Già A Hanh dẫn chúng tôi ra nhà chứa củi mà cô con dâu Y Na đã kiếm ròng rã 4 năm cho bố mẹ chồng, rồi tự hào nói: "Đây là củi con dâu mình biếu đấy, mình nấu hơn 5 năm nay mà vẫn còn rất nhiều. Con dâu mình khéo cái tay lắm, vợ chồng mình thương con dâu lắm". Chị Y Na cho biết, trước đây để kiếm củi cho bố mẹ chồng, chị phải mất 4 năm vào rừng kiếm củi. Hàng ngày, chị phải trèo qua mấy ngọn đồi, lội suối, mới đến được nơi có những cây dẻ đẹp chặt về làm củi hứa hôn. Để có được một đống củi lớn biếu bố mẹ chồng nấu hơn 5 năm nay, chị đã đi cả nghìn cây số gùi hàng trăm bó củi trên lưng mà không biết mệt nhọc. Bởi chị tin, có như vậy chị mới được bố mẹ chồng thương nhiều.

GDXH

 
Lễ hội Tiễn mùa đông ở Nga (10-12-2016) 

Một trong những lễ hội lớn của dân tộc Nga là lễ hội tiễn mùa Đông Maslenhisa. Mùa đông ở Nga rất khắc nghiệt, kéo dài đến 6 tháng, cây cối bao phủ bởi tuyết trắng. Vì vậy, người dân Nga mong mùa đông qua để mùa xuân đến - sự sống hồi sinh.

Lễ hội mùa đông thường được tổ chức vào đầu tháng 3 - đây là thời gian nắng ấm dần, tuyết bắt đầu tan. Năm nay, lễ tiễn mùa đông được tổ chức từ ngày 11/3 đến 17/3 với rất nhiều hoạt động phong phú.

Ở Moscow, có rất nhiều nơi tổ chức lễ hội này, trung tâm thành phố với 3 điểm: Quảng trường Đỏ, Quảng trường Trafangar và công viên Văn hóa Gorki.Tất cả mọi người cùng hòa chung vào không khí rộn ràng náo nức, cùng nhau nắm tay nhảy múa và hát những ca khúc dân gian, cùng hết mình trong các trò chơi và cùng nhau đón một mùa xuân mới.

Trong ngày này, người dân Nga mặc trang phục tượng trưng cho mùa xuân với hoa kết vòng, trên má còn vẽ biểu tượng mặt trời với mong muốn đón một mùa xuân mới. Các bạn lưu học sinh Việt Nam tại Nga đã hòa chung vào không khí của mùa lễ hội.

Rất nhiều người dân Nga cùng khách du lịch đã đến với vùng ngoại ô Moscow.
Rất nhiều người dân Nga cùng khách du lịch đã đến với vùng ngoại ô Moscow.

Rất nhiều người dân Nga cùng khách du lịch đã đến với vùng ngoại ô Moscow.


Cùng với đó là những trò chơi dân gian, dưới đây là một số hình ảnh:

Cùng với đó là những trò chơi dân gian, dưới đây là một số hình ảnh:

Cùng với đó là những trò chơi dân gian, dưới đây là một số hình ảnh:

Cùng với đó là những trò chơi dân gian, dưới đây là một số hình ảnh:

Cùng với đó là những trò chơi dân gian, dưới đây là một số hình ảnh:

Người dân Nga chuẩn bị từ trước những bông hoa bằng giấy với đủ màu sắc, họ cùng nhau vào rừng và gắn những bông hoa đó lên cành cây vẫn còn đọng tuyết. Tất cả đều mong muốn một mùa xuân mới cây cối xanh tươi, người nông dân mùa màng bội thu.

Hình ảnh cây đàn Balalaika xuất hiện nhiều trong dịp lễ hội
Hình ảnh cây đàn Balalaika xuất hiện nhiều trong dịp lễ hội

Ngoài ra, trong những ngày này người dân ăn uống thỏa thích trước dịp ăn kiêng lớn trong ngày Lễ Phục sinh. Món ăn không thể thiếu đó chính là bánh xèo (bánh Blin). Chiếc bánh xèo hình tròn tượng trưng cho mặt trời mang lại hơi ấm mùa xuân, sức sống và hạnh phúc.

Hình ảnh cây đàn Balalaika xuất hiện nhiều trong dịp lễ hội
Bạn Chu Trinh - lưu học sinh Viêt Nam tại Nga đã hòa mình vào không khí của lễ hội, thưởng thức món ăn truyền thống của người dân Nga.

Mọi người cùng nhau phá bức tường thành tuyết trắng - biểu tượng cho mùa đông
Mọi người cùng nhau phá bức tường thành tuyết trắng - biểu tượng cho mùa đông

Ngày cuối cùng của lễ hội, người dân sẽ đốt bù nhìn và tro sẽ được rải ra ngoài đồng ruộng để mong một mùa màng bộ thu. Mọi người cùng hô vang khúc hát đón chào mùa xuân tới.

Nguyễn Thị Bích Ngọc 

Nguyễn Thị Bích Ngọc 
Lưu học sinh tại LB Nga

 
Tục bó chân phụ nữ ở Trung Quốc (10-12-2016) 

Giày sen là loại giày mà phụ nữ ở Trung Quốc thưở xưa hay đi bằng cách “buộc” chân trông giống như một nụ hoa sen. 

Nguồn gốc ra đời đôi giày sen

Tập quán đi “giày bó chân” của các cô gái Trung Quốc đã bắt đầu cách đây hơn 1000 năm, vào giữa thế kỷ 10.

Có nhiều giả thuyết về xuất xứ của tục bó chân. Đó là có 1 con cáo ngụy trang thành hoàng hậu, muốn trở thành người nên con cáo này đã ngụy trang, giấu đôi chân của mình bằng cách bó chặt chân và đi giày.

Tuy nhiên, giả thuyết được nhắc đến nhiều nhất là câu chuyện về 1 cung phi Triệu Phi Yến của Hán Thành Đế. Nàng đã quấn những dải lụa quanh bàn chân và nhảy múa. Hán Thành Đế vì rất ấn tượng với dáng điệu của Triệu Phi Yến khi nhảy múa trên đôi chân bó gọn nên gọi nó là "Kim Liên Tam Thốn" (Gót Sen Ba Tấc) và ra lệnh cho những cung phi khác cũng bắt chước theo.
Một câu chuyện tương tự cũng được nhắc đến trong các tài liệu không chính thức, nhân vật chính lại là nàng Giáng Phi sống ở thời Nam Bắc Triều. 

Tuy rất khác nhau về tên nhân vật nhưng các câu chuyện trên cho thấy một điểm chung, tục bó chân bắt nguồn trong giới thượng lưu. 


Việc bó chân sau đó đã trở nên thịnh hành trong giới nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội Trung Quốc và dần trở thành một tập tục.

Ý nghĩa của tập tục bó chân

Việc bó chân được xem là một giải pháp để kiểm soát và củng cố đức hạnh của nữ giới. Người ta tin rằng những người đàn bà với đôi bàn chân bé tí xíu sẽ không thể rời khỏi nhà dễ dàng, từ đó không thể có cơ hội quan hệ tình dục với người nào khác.
"Cô gái có đôi bàn chân bé khoảng 7cm, thậm chí thật gớm ghiếc, sẽ có nhiều cơ may lấy chồng hơn một thiếu nữ có đôi bàn chân bình thường". 

Vì thế, 90% bé gái Trung Hoa ngày xưa, khoảng 5 hay 6 tuổi, đều phải đau khổ vì tục bó chân này. Sự tăng trưởng của đôi bàn chân đã phải ngưng lại để cho kích thước của chúng không vượt quá kích thước lý tưởng 7,5cm. Đó được xem là kích thước của một đôi gót sen vàng.


“Rùng mình” với quy trình bó chân thành “gót sen vàng”

Người mẹ hoặc người bà trong gia đình sẽ bắt đầu bó chân con gái hoặc cháu gái họ khi đứa trẻ từ 4 đến 7 tuổi.
Đầu tiên, từng chân sẽ được ngâm trong nước lá dược thảo và máu động vật ấm. Sau đó tất cả móng chân sẽ bị cắt càng sâu càng tốt để ngăn chặn sự phát triển của chân và sự nhiễm trùng sau đó.

Tiếp sau đó, bàn chân sẽ được xoa bóp nhẹ nhàng, những dải băng bằng lụa hoặc cotton dài khoảng 3m và rộng 5 cm sau khi được ngâm vào hỗn hợp dược thảo và máu động vật tương tự. 
Từng bàn chân sau đó sẽ bị bẻ gẫy và cuốn gọn vào trong những dải băng ướt này, nén thật chặt đến kiệt nước,kéo giật mạnh về phía gót chân. Đôi khi người ta còn tạo ra những vết cắt sâu ở lòng bàn chân để công việc này được dễ dàng.

Trình tự này sẽ được lặp lại 2 ngày một lần, với một lần bó chân mới. Mỗi lần bó lại, dải băng lại được thắt chặt hơn nữa làm cho quá trình bó chân càng ngày càng đau đớn.

Tục bó chân ở giới thượng lưu phổ biến hơn, đối với tầng lớp nông dân, phải đi cày ruộng nên tục này xuất hiện muộn hơn.

Tuy nhiên, tục bó chân vẫn tồn tại ở Trung Quốc cho đến tận thế kỉ 20. Mãi đến năm 1928, tập tục này mới được bãi bỏ hoàn toàn và được đông đảo dân chúng tách ra khỏi giá trị thẩm mỹ và đạo đức. Ngày nay, người ta chỉ còn thấy những chứng tích ít ỏi của tập tục này trên bàn chân của một số bà cụ già.


Đa dạng giày sen

Những đôi giày "gót sen vàng" rất phong phú. Thông thường giày sen của Trung Quốc có 5 màu cơ bản: màu đỏ, vàng, xanh da trời, màu đen và trắng.

Chất liệu chủ yếu được làm từ lụa, kiểu dáng thường là "chúc phía trước", nhọn hoặc hơi tròn 1 chút với hoa văn thêu trên giày khá tinh tế.

Đôi giày của phụ nữ khi lấy chồng thường là làm bằng lụa đỏ, màu của ngày hôn lễ và bên trong giày thường được trang trí cảnh ái ân mà người vợ trẻ sẽ đón nhận trên chiếc giường trong đêm tân hôn. Từ trước đó, cô dâu phải thêu những đôi giày bông sen vàng cho mẹ chồng.

Về mặt cá nhân, cô dâu phải có ít nhất 4 đôi giày như thế. Con số lý tưởng là 16 đôi, tức mỗi mùa dùng 4 đôi. Cũng theo quy định, trong thời gian tang lễ kéo dài 5 giai đoạn trong 27 tháng, lụa và màu đỏ được thay bằng vải trắng và các màu sậm.


 
[1] 2 3  Sau

Tin đã đăng

Người trẻ hân hoan trong đám cưới trầm mặc nơi cửa Phật (10-12-2016)
Các phong tục về tình yêu, hôn nhân kỳ lạ (10-12-2016)
Châu Phi: Tộc người Wodaabe (01-12-2016)
Tướng giỏi ngoại ngữ 'siêu đẳng' của nhà Trần (05-12-2016)
Kỳ nhân thêu còn lại của triều Nguyễn (02-12-2016)
Bán đấu giá thư tình của Tướng hải quân Anh (05-12-2016)
Oiran - những "kỹ nữ" xưa nước Nhật (05-12-2016)
"Truyền thuyết" về nhà dài truyền thống của người Ê-đê (01-12-2016)
Lễ trưởng thành - Vanuatu, Nam Thái Bình Dương (01-12-2016)
 
VIDEO