thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 
Phong cách vẽ tranh đối xứng của Heather Hansen (28-11-2016) 

Là một họa sĩ, Heather Hansen sống ở thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana quan niệm rằng cần phải có một cách thức sáng tạo nghệ thuật độc đáo và khác thường, như vậy mới có thể xác  lập được một chỗ đứng và vị trí cũng như tên tuổi trong lĩnh vực nghệ thuật. 

Cũng vì lý do đó, Heather Hansen quyết bắt đầu làm quen với việc vẽ tranh đối xứng bằng việc kết hợp nhiều bộ phận trên cơ thể.

Để có thể cho ra đời những bức họa này, Heather đã dùng mực phết lên các bộ phận trên cơ thể như tay, chân, mông sau đó  nằm xõa người trên một tấm vải nền được trải trên sàn nhà, đồng thời di chuyển tay chân tạo nên những bức họa đối xứng độc đáo.  

Cách vẽ tranh có một không hai này của Heather đã trở thành một phần chính trong công việc sáng tạo nghệ thuật của cô.

Heather Hansen đã tổ chức nhiều cuộc biểu diễn vẽ tranh trực tiếp và thú hút đông đảo người xem, hầu hết ai cũng trầm trồ thán phục cách vẽ tranh độc đáo của Heather cũng như những bức họa mà cô vẽ ra.

Họa sĩ vẽ tranh đối xứng kết hợp nhiều bộ phận cơ thể

Chiêm ngưỡng một số bức tranh độc đáo của nữ họa sĩ Heather Hansen:

Đình Huế

Đình Huế

Đình Huế

Đình Huế

Đình Huế

Đình Huế

Đình Huế


 
Ngựa - trong Hội họa (28-11-2016) 

Ngựa đã xuất hiện trong các tác phẩm hội họa suốt chiều dài lịch sử mỹ thuật. Trong nghệ thuật đương đại, ngựa ít được đề cập hơn bởi nó không còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống con người. Tuy vậy, trong hội họa, ngựa vẫn luôn là một đề tài lớn.

Ngựa sớm xuất hiện trong những bức tranh vẽ trên vách hang đá của người tiền sử, có những bức vẽ niên đại lên tới hàng nghìn năm, như bức vẽ được tìm thấy trong hang Lascaux ở miền tây nam nước Pháp có niên đại 16.000 năm.

Trong thời kỳ nghệ thuật Ba-rốc (bắt đầu từ thế kỷ 17), hình ảnh ngựa được các họa sĩ như Peter Paul Rubens, Anthony van Dyck hay Diego Velázquez… khắc họa với vẻ đẹp lý tưởng.

Kể từ đây, ngựa không chỉ còn giới hạn trong những đề tài quen thuộc mà còn bắt đầu xuất hiện trong một lĩnh vực mới, đó là thi đấu thể thao. Ở thời kỳ này, các cuộc đua ngựa bắt đầu được tổ chức rộng rãi trên khắp Châu Âu và đem lại nhiều hứng thú cho các họa sĩ.


Kể từ giữa thế kỷ 18, trường phái nghệ thuật Lãng mạn bắt đầu chiếm thế thượng phong, những họa sĩ người Pháp như Théodore Géricault hay Eugène Delacroix tiếp tục khai thác hình ảnh ngựa nhưng không còn gắn liền ngựa với chiến binh, kỵ sĩ hay quá đề cao sức mạnh của ngựa nữa. Lúc này, hình ảnh ngựa trở nên mềm mại, lãng mạn, như một đối sánh với vẻ đẹp của thiên nhiên hoặc con người.


Hình ảnh ngựa cũng thường xuất hiện
trong các tác phẩm nghệ thuật của người Hy Lạp


Hình ảnh ngựa cũng thường xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật của người Hy Lạp cổ đại. Hình ảnh các chiến binh cưỡi ngựa ra trận thường trở đi trở lại.

Ở



Ở thời kỳ Phục hưng (bắt đầu từ thế kỷ 14), hình ảnh ngựa lại tiếp tục khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho các họa sĩ như Paolo Uccello, Benozzo Gozzoli, Leonardo da Vinci, Albrecht Dürer, Raphael, Andrea Mantegna hay Titian…

Trong thời kỳ Trung cổ, những trận đấu giữa các hiệp sĩ, kỵ sĩ trên lưng ngựa là một hình ảnh đẹp, thường được các họa sĩ như Paolo Uccello hay Albrecht Dürer khắc họa.

Tranh khắc họa chủ đề chiến trận thường để ngựa tham gia vào các trận đánh. Bên cạnh ngựa lúc này là sự hiện diện của các chiến binh, kỵ sĩ, hiệp sĩ, cung thủ…

Bức “Trận đánh ở San Romano” của họa sĩ người Ý Paolo Uccello, vẽ năm 1435-1460.


Bức “Trận đánh ở
San Romano” của họa sĩ người Ý Paolo Uccello, vẽ năm 1435-1460.


Bức tranh in khắc “Hiệp sĩ, Tử thần và Quỷ dữ” của họa sĩ người Đức Albrecht Dürer, vẽ năm 1513.


Bức tranh in khắc
“Hiệp sĩ, Tử thần và Quỷ dữ” của họa sĩ người Đức Albrecht Dürer, vẽ năm 1513.


Bức “Thánh Martin và người ăn mày” của họa sĩ người Tây Ban Nha El Greco vẽ năm 1597-1600.


Bức “Thánh
Martin và người ăn mày” của họa sĩ người Tây Ban Nha El Greco vẽ năm 1597-1600.


Bức “Chân dung khi cưỡi ngựa của công tước xứ Lerma”, họa sĩ Peter Paul Rubens vẽ năm 1603.


Bức “Chân dung khi
cưỡi ngựa của công tước xứ Lerma”, họa sĩ Peter Paul Rubens vẽ năm 1603.


Bức “Chân dung của Hoàng đế Charles V trên lưng ngựa” do họa sĩ Anthony van Dyck thực hiện năm 1620.

Bức “Chân dung của
Hoàng đế Charles V trên lưng ngựa” do họa sĩ


Bức “Một chú ngựa trắng” của họa sĩ Diego Velázquez, vẽ năm 1635.


Bức “Một chú ngựa trắng” của họa sĩ


Bức “Bắt con ngựa hoang” của họa sĩ người Pháp Théodore Géricault, vẽ năm 1817.


Bức “Bắt con ngựa
hoang” của họa sĩ người Pháp Théodore Géricault, vẽ năm 1817.


Bức “Quý bà Godiva” của họa sĩ người Anh John Collier, vẽ năm 1897, khắc họa lại một câu chuyện truyền thuyết tồn tại từ thế kỷ 13 kể về một phụ nữ quý tộc khỏa thân cưỡi ngựa trên phố nhằm kêu gọi chồng bà hãy bớt tiền sưu thuế mà ông bắt những người nông dân phải nộp. Khi bà cưỡi ngựa trên phố, ai dám hé mắt nhìn bà, người ấy sẽ bị mù.

Bức “Bắt con ngựa
hoang” của họa sĩ người Pháp Théodore Géricault, vẽ năm 1817.


Trong số rất nhiều họa sĩ từng vẽ tranh về ngựa, nổi tiếng nhất ở phương Tây có họa sĩ người Anh George Stubbs (1724-1806). Ngựa trở đi trở lại trong tranh ông đến mức người ta gọi ông là “họa sĩ của những chú ngựa”.

Bức “Ngựa cái và ngựa con” do George Stubbs vẽ năm 1763-1768.


Bức “Ngựa cái và
ngựa con” do George Stubbs vẽ năm 1763-1768.


Ở phương Đông, nổi tiếng với dòng tranh ngựa có họa sĩ người Trung Quốc là Từ Bi Hồng (1895-1953). Những nét vẽ cuồn cuộn mạnh mẽ, phóng khoáng với màu mực nho truyền thống, Từ Bi Hồng thông qua hình ảnh ngựa thường bộc lộ tình cảm, nhiệt huyết của mình.

Hai bức tranh về ngựa được vẽ bằng mực tàu của Từ Bi Hồng.


Hai
bức tranh về ngựa được vẽ bằng mực tàu của Từ Bi Hồng.


Hình ảnh ngựa trong thi đấu thể thao trở thành đề tài phổ biến ở thế kỷ 19với những họa sĩ quý tộc như Benjamin Marshall, James Ward, Henry Thomas Alken, James Pollard hay John Frederick Herring thường khắc họa ngựa tại các cuộc đua.




Bức “Đua lấy cúp vàng” vẽ năm 1834 của họa sĩ người Anh James Pollard.


Bức “Đua lấy cúp
vàng” vẽ năm 1834 của họa sĩ người Anh James Pollard.





Giữa thế kỷ 19, trường phái Ấn tượng ra đời cũng trùng khớp với giai đoạn phát triển môn thể thao đua ngựa, những họa sĩ nổi tiếng theo trường phái Ấn tượng như Manet, Degas hay Toulouse-Lautrec đều có hứng thú lớn với môn thể thao này. Vì vậy, họ cũng đưa khá nhiều hình ảnh ngựa vào tranh theo trường phái Ấn tượng.

Nếu Manet thường khắc họa sự phấn khích trong hình ảnh ngựa đang đua thì Degas tập trung vào sự bồn chồn của ngựa trước khi xuất phát.

Bức “Trước khi
vào cuộc đua” của họa sĩ người Pháp Edgar Degas, vẽ năm 1882-1884.
Bức “Trước khi vào cuộc đua” của họa sĩ người Pháp Edgar Degas, vẽ năm 1882-1884.

Bức “Những cuộc
đua ở Longchamp” của họa sĩ người Pháp Édouard Manet, vẽ năm 1864.
Bức “Những cuộc đua ở Longchamp” của họa sĩ người Pháp Édouard Manet, vẽ năm 1864.

Bức “Những cuộc
đua ở Longchamp” của họa sĩ người Pháp Édouard Manet, vẽ năm 1864.
Bức “Chợ bán ngựa” của họa sĩ người Pháp Rosa Bonheur, vẽ năm 1853-1855, theo trường phái Hiện thực.

Những tác phẩm mỹ thuật khắc họa cuộc sống của cao bồi miền Tây nước Mỹ trong thời kỳ này vốn rất quen thuộc với giới hội họa. Những họa sĩ Mỹ đến từ miền Tây như Frederic Remington hay C.M. Russell rất nổi tiếng với các tác phẩm khắc họa cao bồi miền Tây và những chú ngựa dũng mãnh.

Một tác phẩm của
Frederic Remington thực hiện năm 1889.
Một tác phẩm của Frederic Remington thực hiện năm 1889.

Bức “Buccaroos”
vẽ năm 1902 của họa sĩ C.M. Russell.
Bức “Buccaroos” vẽ năm 1902 của họa sĩ C.M. Russell.

Ở thế kỷ 20, nổi tiếng với dòng tranh ngựa có họa sĩ người Anh Alfred Munnings. Ông chuyên sáng tác tranh gắn với hình ảnh ngựa, bao gồm tranh về ngựa đua, chân dung ngựa, ngựa trong đời sống du mục và đời sống lao động ở nông thôn.

Ở thời kỳ này, bên cạnh nghề phóng viên ảnh chiến trường mới bắt đầu xuất hiện, người ta còn có một nghề vốn đã tồn tại từ rất lâu, đó là nghề “họa sĩ chiến trường”. Alfred Munnings chính là một trong những họa sĩ chiến trường nổi tiếng nhất thời kỳ này.

Trong thời kỳ diễn ra Thế chiến I, ông được phân công đi theo lực lượng kỵ binh Canada đồn trú tại Pháp. Ông coi đây là một trong những trải nghiệm quý giá nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình bởi được tiếp xúc trực tiếp với những chú ngựa trong quá trình vận động, chiến đấu… đã cho ông nhiều ý tưởng trong sáng tác dòng tranh về ngựa.

Bức “Cuộc tấn
công của đội kỵ binh Flowerdew” do Alfred Munnings thực hiện năm 1918.
Bức “Cuộc tấn công của đội kỵ binh Flowerdew” do Alfred Munnings thực hiện năm 1918.

Bức “Cuộc tấn
công của đội kỵ binh Flowerdew” do Alfred Munnings thực hiện năm 1918.
Bức “Những con ngựa xanh to lớn” của họa sĩ người Đức Franz Marc, vẽ năm 1911, theo trường phái Biểu hiện.

Được truyền cảm hứng từ tranh của họa sĩ El Greco ở thời kỳ Phục hưng, Pablo Picasso - họa sĩ nổi tiếng đi theo trường phái Lập thể - cũng đưa ngựa vào trong tác phẩm của mình.

Bức “Cậu bé dắt
ngựa” do họa sĩ người Tây Ban Nha Pablo Picasso vẽ năm 1906.
Bức “Cậu bé dắt ngựa” do họa sĩ người Tây Ban Nha Pablo Picasso vẽ năm 1906.

Bức “Guernica” của
Pablo Picasso, vẽ năm 1937.
Bức “Guernica” của Pablo Picasso, vẽ năm 1937.

Nguồn: Dân trí



 
Tranh Mihai Criste thử tài thị giác (28-11-2016) 

Họa sĩ người Rumani Mihai Criste vẽ tranh theo phong cách siêu thực, mỗi bức thường chứa nhiều nội dung, đa tầng nghĩa.


           
1-1145-1387766324.jpg
 
3-8954-1387766325.jpg
 
4-7090-1387766325.jpg
 
5-8268-1387766325.jpg
 
18-5888-1387766325.jpg
 
7-6838-1387766326.jpg
 
8-3519-1387766326.jpg
 
9-4695-1387766326.jpg
 
10-9344-1387766326.jpg
 


Vnexpress
Ảnh: mihaicriste

 
Đức mẹ Đồng trinh và Chúa Jesus trong tranh Giotto (28-11-2016) 


           Giotto di Bondone (1267 - 1337) là một trong những họa sĩ vĩ đại. Các bích họa của ông, hoàn thành năm 1305, cho nhà thờ Scrovegni Chapel ở Italy là những kiệt tác của thời kỳ đầu Phục Hưng.

1-4491-1387941593.jpg

Nhà nguyện Scrovegni Chapel với các bức họa của Giotto.

body-1-3740-1387941593.jpg
 
2-5807-1387941593.jpg
 
3-8437-1387941593.jpg
 
4-3642-1387941594.jpg
 
5-9457-1387941594.jpg
 
6-5137-1387941594.jpg
 
7-1410-1387941594.jpg
 
8-5092-1387941594.jpg
 
9-8972-1387941594.jpg
 
10-9627-1387941595.jpg
 
11-8067-1387941595.jpg
 

VN
Ảnh: Wikipainting

 
Ánh sáng ấm áp trong tranh Lushpin (28-11-2016) 

Eugene Lushpin là họa sĩ đương đại người Nga. Với phong cách photorealistic, ông tạo ra hàng loạt bức tranh về cảnh quan với ánh sáng ấm áp. Các tác phẩm khiến người xem lầm tưởng đó là ảnh chụp một phong cảnh đẹp đẽ nào đó.
 

 

2-4330-1387003908.jpg
 
3-2869-1387003909.jpg
 
4-6264-1387003909.jpg
 
5-7882-1387003909.jpg
 
6-1426-1387003909.jpg
 
7-6938-1387003909.jpg
 
8-5438-1387003910.jpg
 
9-9407-1387003910.jpg
 
10-6390-1387003910.jpg
 
11-5669-1387003911.jpg
 
12-6874-1387003911.jpg
 
13-3920-1387003911.jpg
 


Nguồn: VnExpress
Ảnh: Lushpin

 
Khám phá sự kỳ lạ của chiếc cốc 1600 tuổi (28-11-2016) 

Chiếc cốc tuyệt đẹp 1600 tuổi có khả năng biến đổi màu sắc kỳ lạ. Khi chiếu sáng từ phía trước, chiếc cốc có màu xanh, và khi chiếu sáng từ phía sau, chiếc cốc chuyển sang màu đỏ...

Bí mật về một chiếc cốc La Mã 1600 tuổi ở Bảo tàng Anh chính là chìa khóa cho một công nghệ mới cực kì nhạy bén, nhờ đó có thể giúp chẩn đoán các bệnh của con người hay định vị các loại chất độc hóa sinh ở các trạm kiểm soát an ninh.
 
Chiếc cốc thủy tinh được chế tác vào thế kỉ thứ 4 sau CN, có tên gọi là “Cốc Lycurgus” bởi hình trang trí có hình vua Lycurgus xứ Thrace bị mắc trong một đám cây nho, do các hành động độc ác chống lại vị thần rượu Dionysus trong thần thoại Hi Lạp.

Cận cảnh chiếc cốc La Mã 1600 tuổi đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh.
Cận cảnh chiếc cốc La Mã 1600 tuổi đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh.


Hoa văn trang trí trên cốc là hình vua Lycurgus xứ Thrace.
Hoa văn trang trí trên cốc là hình vua Lycurgus xứ Thrace.

Chiếc cốc có màu xanh ngọc bích khi chiếu sáng từ phía trước và màu đỏ máu khi chiếu từ phía sau, đây là một đặc tính làm đau đầu các nhà khoa học suốt hàng chục năm sau khi họ thu được chiếc cốc vào những năm 1950. Bí ẩn này đã không tìm được lời giải đáp cho tới tận năm 1990, khi các nhà nghiên cứu người Anh quan sát các mảnh vỡ dưới kính hiển vi và phát hiện ra chính những người thợ La Mã là những người tiên phong về công nghệ nano bằng cách trộn các hạt vàng và bạc cực nhỏ vào trong thủy tinh.
 
Mỗi hạt kim loại này được mài cho tới khi kích cỡ chỉ còn 50 nanomet, chưa tới 1/1000 hạt muối. Tỉ lệ pha trộn chính xác của hỗn hợp này cho thấy là người La Mã biết rõ việc họ đang làm – “một kì tích”, trích lời nhà khảo cổ Ian Freeston ở đại học London.

Chiếc cốc có màu xanh ngọc khi chiếu sáng từ phía trước và màu đỏ máu khi chiếu từ phía sau.
Chiếc cốc có màu xanh ngọc khi chiếu sáng từ phía trước và màu đỏ máu khi chiếu từ phía sau.

Công nghệ nano cổ đại hoạt động như sau: Khi được chiếu sáng, các hạt electron trong mảnh kim loại dao động và biến đổi màu sắc của chiếc cốc dựa vào vị trí của người quan sát. Gang Logan Liu, kĩ sư ở đại học Illinois là người từ lâu đã tập trung vào việc sử dụng công nghệ để chẩn đoán bệnh tật. Cùng với các đồng nghiệp, ông đã nhận ra khả năng tiềm tàng mà hiệu ứng này mang lại. “Người La Mã biết cách chế tạo và áp dụng các hạt nano vào nghệ thuật”, Liu cho biết, “Chúng tôi muốn xem liệu công nghệ này có ứng dụng khoa học nào không”.

Chiếc cốc có màu xanh ngọc khi chiếu sáng từ phía trước và màu đỏ máu khi chiếu từ phía sau.

Chiếc cốc có màu xanh ngọc khi chiếu sáng từ phía trước và màu đỏ máu khi chiếu từ phía sau.
Công nghệ nano cổ đại khiến chiếc cốc biến đổi màu sắc khi được chiếu sáng hoặc khi chứa các loại chất lỏng khác nhau.

Khi các loại chất lỏng khác nhau được đổ đầy cốc, Liu cho rằng chúng sẽ thay đổi cách các electron tương tác với nhau, và từ đó thay đổi màu sắc. Khi nước, dầu, dung dịch đường và dung dịch muối được đổ vào đây, chúng tái hiện một dải các màu dễ nhận biết, ví dụ như xanh lục nhạt cho nước và đỏ cho dầu. Mẫu thử nghiệm này nhạy hơn 100 lần trước sự thay đổi nồng độ của muối so với các cảm biến trên thị trường sử dụng công nghệ tương tự. Một ngày nào đó nó có thể xuất hiện trên các thiết bị cầm tay để phát hiện các tác nhân gây bệnh trong nước bọt hoặc nước tiểu, hoặc phát hiện những tên khủng bố tìm cách mang chất lỏng nguy hiểm lên máy bay.

T
Theo S. Sonian

 
Tranh màu siêu thực “mưa trên kính” đẹp mắt (28-11-2016) 

          - Chỉ sử dụng những chiếc bút chì màu, họa sĩ Elizabeth Patterson ở Los Angeles đã phác họa nên những bức tranh siêu thực về những giọt nước mưa trên kính chắn gió ô-tô trông rất đẹp mắt.

 Elizabeth Patterson đã tốt nghiệp cử nhân Mỹ thuật tại trường cao đẳng nghệ thuật thiết kế Minneapolis, sau đó chuyển đến sống ở Los Angeles vào năm 1979.

Phong cánh nghệ thuật tranh của Patterson khá giống với của họa sĩ Gregory Thielker, tuy nhiên điều khác biệt ở 2 họa sĩ này là Patterson vẽ tranh sử dụng bút chì màu trong khi Thielker vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu.

Đình Kiên

Khi còn trẻ, bà đã bộc lộ được những tài năng hội họa của mình và gây được sự chú ý lớn, thành công của bà trên lĩnh vực hội họa bắt đầu được biết đến nhiều kể từ năm 1984. Tuy nhiên sau đó, một vụ tai nạn kinh hoàng đã đánh mất đi khả năng vẽ tranh thiên tài của bà.  

Patterson đã phải mất 2 năm điều trị trong bệnh viện. Cảm thấy không còn khả năng, Patterson không bao giờ vẽ tranh lại nữa, bà đã gác công việc nghệ thuật quan một bên.  

Năm 1986, trong một chuyến đi đến vùng biển Hawaii, tại đây bà đã khám phá ra vẻ đẹp lỗng lẫy của thế giới dưới lòng biển. Đó có lẽ cũng là yếu tố khiến bà bắt đầu nghĩ đến việc trở lại sự nghiệp vẽ tranh. Bà mất nhiều năm sau đó tập vẽ tranh bằng bút chì màu. 13 năm sau chuyến đi duyên nợ đó, bà chính thức quay lại với nghệ thuật với sự ủng hộ và giúp đỡ của người bạn đời.

Đình Kiên

Kể từ khi quay lại với lĩnh vực mỹ thuật, bà đã cho ra đời nhiều tác phẩm tranh siêu thực đẹp mắt, trong đó ấn tượng nhất là những tác phẩm bà vẽ về thế giới nước. Bộ ảnh siêu thực về những hạt mưa rơi trên kính chắn gió của ô-tô đã thu hút được sự quan tâm và đánh giá cao của mọi người.

Chiêm ngưỡng bộ ảnh nước mưa trên kính chắn gió của họa sĩ Elizabeth Patterson:

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

 
 
DT

 
Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng (29-11-2016) 

Mỹ thuật Phục Hưng là một trong những đỉnh cao của lịch sử mỹ thuật. Thời đó, những họa sỹ thiên tài đã đưa ra cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về tiêu chuẩn thẩm mỹ, theo đó, họ tôn sùng vẻ đẹp tự nhiên của cơ thể con người.

Ở thời kỳ này, những truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp - La Mã bắt đầu sống dậy và trở thành suối nguồn sáng tạo cho các tác phẩm hội họa. Để phản ánh sự yếu đuối, mỏng manh của con người, các họa sĩ Phục Hưng thường để nhân vật trong tranh lộ nguyên phần xác.

Đối với nghệ thuật Phục Hưng, khỏa thân bỗng trở thành tâm điểm của sáng tạo nghệ thuật, gợi nhớ về một thuở con người sống rất “thiên nhiên”.

Danh họa người Ý Michelangelo (1475-1564)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1530, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi đã ngoài 50 tuổi, Michelangelo công khai mình đồng tính. Ông dũng cảm viết những bài thơ tình dành tặng một thanh niên quý tộc đẹp trai. Ở thời đó, người ta có thể bị thiêu chết vì đồng tính. Trong bức tranh này, nàng Leda của ông có khuôn mặt khá… nam tính.

Danh họa người Ý Leonardo da Vinci (1452-1519)

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1515-1520, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Leonardo cho rằng phản ánh dục vọng là sứ mệnh vĩ đại của nghệ thuật. Ông từng viết: “Mỹ thuật siêu đẳng hơn thi ca bởi nếu thi ca chỉ có thể miêu tả tình yêu thì mỹ thuật khắc họa tình yêu. Người họa sĩ châm lên ngọn lửa khao khát trong người xem”.

Sự dữ dội trong tranh khỏa thân thời Phục Hưng
Bức “Saint John the Baptist” (Thánh John làm lễ rửa tội) vẽ năm 1513-1516, trưng bày tại Bảo tàng Louvre, Paris, Pháp.

Đương thời Leonardo từng hai lần bị bắt vì tội “tằng tịu” với người đồng giới. Tuy vậy, ông chưa bao giờ bị kết án bởi những người tình của ông đều xuất thân quý tộc. Trong bức tranh này, người ta tin rằng Leonardo đang khắc họa một người tình của mình.

Danh họa người Ý Raphael (1483-1520)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.

Trong bức họa là người tình của Raphael - nàng Fornarina. Chính vì vẻ đẹp này mà ông đã sớm qua đời ở tuổi 37 vì một lần “quá sức”.

Danh họa người Hà Lan Rembrandt (1606-1669)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “Portrait of Hendrickje Stoffels” (Chân dung Hendrickje Stoffels) vẽ năm 1654-1656, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Khi Rembrandt thực hiện bức tranh này, người tình của ông cũng đồng thời là nhân vật nữ trong tranh đang gặp rắc rối với nhà thờ vì bị kết án là một “phụ nữ dễ dãi”. Nàng Hendrickje chuyển về sống với Rembrandt dù họ không kết hôn. Bức tranh này đã thể hiện tình yêu sâu sắc mà Rembrandt dành cho người tình, nó lột tả cả vẻ đẹp nhan sắc và nội tâm của nàng.

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “A woman bathing in a stream” (Người phụ nữ tắm suối) vẽ năm 1654, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Lại một bức tranh khác mà Rembrandt vẽ nàng Hendrickje Stoffels. Nàng trở thành người tình của ông sau khi vợ của Rembrandt qua đời. Ông không thể kết hôn với Hendrickje, bởi việc kết hôn này sẽ tước quyền thừa kế tài sản từ vợ ông. Kinh tế của Rembrandt khá bấp bênh và ông không thể từ bỏ quyền thừa kế. Sau này, Rembrandt vẫn bị phá sản vì ông đầu tư quá nhiều vào trang phục cho người mẫu cũng như sưu tầm quá nhiều tranh.

Danh họa người Ý Agnolo Bronzino (1503-1572)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “An Allegory with Venus and Cupid” (Biểu tượng thần Vệ Nữ và thần Tình Yêu) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bronzino là người đồng tính. Đương thời, ông chung sống với người bạn đời làm nghề sản xuất binh khí. Khi người tình qua đời, Bronzino đã lãnh trách nhiệm chăm sóc cho gia đình của người đàn ông kia.

Tranh của Bronzino nhấn mạnh vẻ đẹp hình thể và những khoái lạc của con người. Bức họa trên là món quà mà tòa án tối cao của Cộng hòa Florence tặng nhà vua Pháp. Tác phẩm này đã truyền cảm hứng và sự mạnh dạn cho nhiều họa sĩ Pháp sáng tạo nên những tác phẩm đậm màu dục vọng.

Danh họa người Ý Tiziano Vecelli (1490-1576)

Bức “The Fornarina” (Nàng Fornarina) vẽ năm 1518, trưng bày tại lâu đài Palazzo Barberini, Rome, Ý.
Bức “The Venus of Urbino” (Vệ Nữ của tỉnh Urbino) vẽ năm 1536-1538, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

Một người bạn của họa sĩ Tiziano từng viết một lá thư tay, trong đó đề cập tới tình hình sức khỏe của Tiziano như sau: “Sức khỏe của Tiziano tốt nhưng đôi khi rơi vào trạng thái kiệt sức vì sau khi thực hiện những bức tranh tuyệt đẹp về phụ nữ, Tiziano thường “yêu” luôn mẫu”. Điều này đã lý giải tại sao những bức tranh của Tiziano luôn chân thực, sống động và thể hiện khát khao mạnh mẽ đối với cái đẹp.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.

Nàng Danae của thần thoại Hy Lạp đang ngẩng đầu lên nhìn thần Dớt đến tự tình với cô trong hình dáng một cơn mưa vàng.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Diana and Actaeon” (Diana và Actaeon) vẽ năm 1556 – 1559, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại một truyền thuyết Hy Lạp: tráng sĩ Actaeon đi săn trên núi, tình cờ nhìn thấy nữ thần Diana tắm. Actaeon liền bị Diana biến thành một con hươu. Chàng bị chính đàn chó săn của mình xẻ thịt. Đó là cái giá phải trả cho thói tò mò, mạo phạm tới thần linh của Actaeon.

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Saint Mary Magdalene” (Thánh Mary Magdalene) vẽ năm 1535, trưng bày tại Triển lãm Palatina, cung điện Pitti, Florence, Ý.

 
Danh họa người Ý Palma Vecchio (1480-1528)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “A Blonde Woman” (Một phụ nữ tóc vàng) vẽ năm 1520, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức chân dung khắc họa một gái điếm ở Venice. Dấu hiệu để nhận biết những cô gái này là trên tay họ luôn cầm một bó hoa. Đặc điểm này sinh ra từ một truyền thuyết La Mã, theo đó gái điếm được bảo vệ bởi nữ thần Cây cỏ.

Danh họa người Ý Antonio Correggio (1489-1534)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Jupiter and Io” (Thần Dớt và nàng Io) vẽ năm 1539, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Các họa sĩ Phục Hưng đặc biệt thích khắc họa chuyện yêu đương của thần Dớt. Trong các truyện thần thoại cổ xưa, thần Dớt thường ngụy trang, biến hóa khôn lường để có thể tự tình với phụ nữ mà không bị vợ ngài - nữ thần Hera phát hiện ra. Khi ở bên nàng Io, ngài hóa thành sương mù.

Danh họa người Đức Lucas Cranach (1472-1553)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Cupid Complaining to Venus” (Thần Tình Yêu làm nũng thần Vệ Nữ) vẽ năm 1525, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thần Vệ Nữ trong tranh Lucas Cranach rất thanh mảnh - một “chuẩn đẹp” khá mới so với quan niệm đương thời.

Danh họa người Ý Sandro Botticelli (1445-1510)

Bức “Danae” (Nàng Danae) vẽ năm 1544 – 1545, trưng bày tại Bảo tàng Capodimonte, Naples, Ý.
Bức “Venus and Mars” (Thần Vệ Nữ và thần Chiến Tranh) vẽ năm 1485, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Vẻ đẹp của thần Vệ Nữ đã ru ngủ thần Chiến Tranh. Sắc đẹp có thể khiến mọi sức mạnh dù tàn bạo nhất phải ngã gục. Vì vậy, người ta thường nói cái đẹp cứu thế giới.

Danh họa người Hà Lan Gerrit van Honthorst (1592-1656)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Bức tranh kể lại chuyện Thánh Sebastian bị bắn chết vì đi theo đạo Thiên Chúa. Trong tác phẩm này, Honthorst thể hiện rõ nét phong cách của mình: sự đối lập mạnh mẽ giữa ánh sáng và bóng tối.

Danh họa người Ý Guido Reni (1575-1642)

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1620-1630, trưng bày tại Triển lãm Dulwich, London, Anh.

Các nhà phê bình mỹ thuật rất giỏi “bắt mạch” đời sống tình cảm của họa sĩ qua tranh. Đối với trường hợp của Honthorst và Reni, họ cùng thực hiện hai bức tranh về Thánh Sebastian. Các nhà phê bình nhận định rằng, ở cả hai tác phẩm, họ đều thấy sự khao khát mạnh mẽ của họa sĩ đối với chính nhân vật mà họ tạo nên.

Anh em họa sĩ người Ý Antonio và Piero del Pollaiolo

Bức “Saint Sebastian” (Thánh Sebastian) vẽ năm 1623, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.
Bức “The Martyrdom of Saint Sebastian” (Hành quyết Thánh Sebastian) vẽ năm 1475, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia, London, Anh.

Thời Phục Hưng, người ta thường gọi những người đồng tính là “Florenzer” (Người ở thành Florence, Ý). Có từ lóng này là bởi các họa sĩ phương Tây đương thời thích tới Florence sống. Rất nhiều người trong số họ đồng tính khiến chính quyền thành phố quyết định thành lập một ban chuyên trách, phát hiện, xử lý những người đàn ông đồng tính. Bức tranh này đã ngầm phản ánh nỗi lo sợ của các họa sĩ trước sự khắc nghiệt của luật pháp đương thời.

Danh họa người Ý Giorgione Castelfranco (1477-1510)

Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.
Bức “Laura” (Nàng Laura) vẽ năm 1506, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Giorgione đương thời nổi tiếng là họa sĩ đào hoa, đẹp trai. Ông chơi đàn luýt rất hay và thường lấy món tài lẻ này để quyến rũ phụ nữ. Ông chinh phục được những người đẹp nổi tiếng ở Venice và thường thuyết phục họ làm mẫu cho các bức vẽ của mình. Đây là một trong những người tình của ông.

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.

Venice là thành phố của tình yêu và sự nghiệt ngã. Những cô gái điếm hết thời có cuộc sống hết sức bi đát.

Danh họa người Pháp Francois Clouet (1510-1572)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “A Lady in her Bath” (Quý bà đang tắm) vẽ năm 1571, trưng bày tại Triển lãm Mỹ thuật Quốc gia, Washington DC, Mỹ.

Những quý bà thượng lưu ở Pháp đương thời có “mốt” vẽ tranh chân dung khỏa thân. Người phụ nữ trong tranh là Diane de Poitiers, người tình của vua Henry II của Pháp. Khi nhà vua lên ngôi năm 27 tuổi, Diane đã 48 tuổi nhưng bà vẫn có vẻ đẹp vô song.

Danh họa người Đức Peter Paul Rubens (1577-1640)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “The Little Fur” (Chiếc áo lông) vẽ năm 1630, trưng bày tại Bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, Áo.

Bức chân dung khắc họa nàng Helena Fourment – vợ của Rubens. Họ kết hôn vào năm 1630 khi Helena 16 và Rubens 53 tuổi.

Danh họa người Ý Paris Bordone (1500-1571)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Venetian Women at their Toilet” (Những cô gái Venice điểm trang) vẽ năm 1545, trưng bày tại Triển lãm Quốc gia Scotland, Edinburgh, Anh.

Tại Venice ở thế kỷ 16 có tới 20.000 gái điếm. Trong tranh là hai cô gái đang thay đồ và trang điểm, người phụ nữ đội khăn xanh là một mụ tú bà.

Danh họa người Ý Tintoretto (1518-1594)

Bức “The Tempest” (Giông tố) vẽ năm 1505-1508, trưng bày tại Triển lãm Accademia, Florence, Ý.
Bức “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) vẽ năm 1555, trưng bày tại Triển lãm Uffizi, Florence, Ý.

 
 

Theo Guardian

 
Vẻ đẹp mê hoặc của phụ nữ Nga trong tranh (29-11-2016) 

 Cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp quyến rũ, đầy sức sống của phụ nữ Nga trong tranh.

Vladimir Volegov là một hoạ sĩ khá nổi tiếng tại Nga. Tên tuổi của ông gắn liền với những bức tranh đẹp khắc hoạ thiếu nữ Nga. Volegov sinh ra tại thành phố Chabarovsk và bắt đầu học vẽ từ năm 3 tuổi.

Sau khi vào học ở trường mỹ thuật, Vladimir từng phục vụ trong quân đội một thời gian. Với tài năng hội hoạ, ông tiếp tục được đào tạo lên cao về chuyên ngành mỹ thuật. Từ năm 1984, Vladimir bắt đầu tham gia vào các cuộc thi mỹ thuật quốc tế và giành được một số giải thưởng.

Đến năm 1988, ông chuyển tới sống ở thủ đô Moscow và bắt đầu sự nghiệp hội hoạ từ đây. Ban đầu, các nhà xuất bản tìm tới Vladimir để đặt hàng thiết kế poster, bìa sách, bìa đĩa hát... Dần dần, tài năng và phong cách của ông được khẳng định, tranh của Vladimir bắt đầu được trưng bày trong các triển lãm.

Đến năm 1990, Vladimir quyết định đi du lịch vòng quanh các nước Châu Âu. Trong chuyến hành trình đó, ông kiếm sống bằng nghề bán tranh dạo. Vladimir ngồi trên các đường phố của Barcelona, Berlin, Vienna… vẽ tranh kiếm tiền đi du lịch.

Bằng chính những kinh nghiệm có được từ thời kỳ chuyên vẽ tranh chân dung này mà sau đó Vladimir đã định hình được phong cách riêng trong việc khắc hoạ chân dung thiếu nữ Nga.

Hãy cùng chiêm ngưỡng những thiếu nữ Nga xinh đẹp trong các tác phẩm của Vladimir Volegov:

Thiếu nữ trong tranh Vladimir có vẻ đẹp như những thiên thần

Thiếu nữ trong tranh Vladimir có vẻ đẹp như những thiên thần

Thiếu nữ trong tranh Vladimir có vẻ đẹp như những thiên thần
Thiếu nữ trong tranh Vladimir có vẻ đẹp như những thiên thần

Các nàng thơ trong tranh của Vladimir rất yêu sách

Các nàng thơ trong tranh của Vladimir rất yêu sách

Các nàng thơ trong tranh của Vladimir rất yêu sách

Các nàng thơ trong tranh của Vladimir rất yêu sách
Các nàng thơ trong tranh của Vladimir rất yêu sách

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

Pi Uy

 
 
DT
Theo Cuded

 
[1] 2  Sau

Tin đã đăng

Thế giới lãng mạn trong tranh họa sĩ Nga (29-11-2016)
Chiêm ngưỡng khu phố Lodz đậm chất nghệ thuật ở Ba Lan (29-11-2016)
Những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên của loài người (29-11-2016)
Tinh xảo với điêu khắc tôn giáo (29-11-2016)
 
VIDEO