thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 
Leonardo di ser Piero da Vinci - thiên tài toàn năng (22-02-2017) 

Thegioidep.info

Leonardo di ser Piero da Vinci - được biết là một nhà phát minh, một nhà khoa học, một nhà toán học và trên tất cả, ông là một họa sĩ toàn năng. Da Vinci được coi là một người  thời Phục Hưng đích thực, ông đã có rất nhiều kỹ năng trong các lĩnh vực mà ông đã tham gia và được tôn trọng vì những thành tựu nghệ thuật của ông. Ông đã là một người mở ra các ngành khoa học, kỹ thuật phát triển nghệ thuật mới, và là một trong những người đầu tiên mổ xẻ cơ thể con người. 
Da Vinci được sinh ra vào ngày 15/4/1452 ở Vinci, Ý. Cha mẹ ông là những người bình thường và có công việc đơn giản.
Khi còn nhỏ, Leonardo luôn cố gắng phát minh ra những điều mới mẻ và ông là một người rất thông minh.
14 tuổi, Leonardo đã học vẽ và theo học họa sĩ được cho là tốt nhất vào thời điểm đó có tên là Andrea del Verrocchio. Dưới sự hướng dẫn của người thầy đầu tiên, Leonardo đã hiểu thế nào là vẽ và tạc. Ông cũng được học các kỹ năng trong luyện kim, hóa học và mộc. Trong số những nghề ông đã học, ông đã chọn nghệ thuật là nghề chính của mình và ông sử dụng tất cả những gì đã học được trong suốt cả cuộc đời. 
Hiện nay, chỉ có 15 bức tranh của Da Vinci còn lại, nổi tiếng nhất là bức Mona Lisa được vẽ giữa những năm 1503-1507. Người mẫu trong tranh được cho là vợ một thương gia trẻ, trong tác phẩm này, Da Vinci đã sử dụng một kỹ thuật mới được cho là Sfumato, tạo ra một bầu không khí mờ ảo trong bức tranh. Mona Lisa được phân tích qua nhiều thời đại, nhưng hiện nay người ta vẫn chưa khám phá ra được bí ẩn nụ cười của nàng.

Chân dung Leonardo da Vinci cùng với phác thảo cơ và xương người


Chân dung Leonardo cùng với phác thảo cơ và xương người



Đọc thêm về Leonardo di ser Piero da Vinci theo các nguồn sau:

 
Tác phẩm: Thiếu nữ bên hoa sen - Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân - Nổi danh với chất liệu Sơn dầu (11-01-2017) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

Tô Ngọc Vân (1906-1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. 
Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. 
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, và lớn lên tại Hà Nội.
Tô Ngọc Vân là một cậu bé con nhà nghèo, quá tuổi mới được đến trường học chữ. Đang học trung học năm thứ 3, Tô Ngọc Vân bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. 
Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế.
Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí. Ông hợp tác với các báo Phong Hóa và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị.

Từ 1935 - 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. 
Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.


Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Ông đã viết những dòng tự sự ...ngay từ lúc đi học đã mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới.... Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.
Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính của con tem là tiên nữ Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân mất ngày 17/6/1954 tại Km 41, Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do bom của máy bay Pháp, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Ông được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và phần mộ hiện an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

Tác phẩm:
Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.

Tranh sơn dầu "Thiếu nữ bên hoa huệ" - Tô Ngọc Vân 

Tranh sơn dầu

Tranh "Hai thiếu nữ và em bé" - Tô Ngọc Vân

Tranh

(Tổng hợp)

 
Danh họa Nguyễn Gia Trí - "cha đẻ tranh sơn mài tân thời Việt Nam" (11-01-2017) 

Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993)
Năm sinh: 1908 tại Chương Mỹ, Hà Tây
Ngày mất: 20 tháng 6 năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phong cách nghệ thuât
Nguyễn Gia Trí là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "người cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo những bức họa hiện đại mang đầy tính chất dân tộc.
Tác phẩm chính: Thiếu nữ trong vườn, Vườn xuân Trung Nam Bắc, Thiếu nữ bên hoa phù dung.

Được mệnh danh là "cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam", Nguyễn Gia Trí là cây đại thụ lớn nhất của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí - có câu: Nhất Trí, Nhì Vân, Tam Lân, Tứ Cẩn - và trong đó, danh họa Nguyễn Gia Trí nổi bật với dòng tranh sơn mài ). 

Ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật. Gia Trí đã để lại một vẻ đẹp sơn mài lộng lẫy tôn giáo, cổ điển, bởi ông là người duy nhất đã khám phá ra linh hồn của sơn mài truyền thống, khiến nó không còn tầm thường nữa mà đài các, quí phái. Vẻ đẹp thiếu nữ trong tranh ông được diễn tả tài hoa là hiện thân của khát vọng tự do, mộng mơ.
"Vườn Xuân Trung Nam Bắc" đã đạt được mấy kỷ lục: kích thước lớn nhất, phối hợp nhiều chất liệu truyền thống và được nhà nước mua với giá cao nhất (100.000 USD, tương đương 600 triệu đồng Việt Nam thời điểm đó). Đó là tác phẩm được ghép từ 9 tấm vóc, được họa sĩ Nguyễn Gia Trí sáng tác trong gần 20 năm và cũng là tác phẩm cuối cùng của ông.

Tác phẩm sơn mài “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.



Tác phẩm sơn mài “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Tác phẩm "Thiếu nữ bên hoa phù dung" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Tác phẩm

Nguồn: http://toplist.vn/

 
Henri Matise - Người khởi đầu cho trường phái Dã thú (06-01-2017) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

CẨM ANH
-----------------------------------

Henri Matisse - tên gọi đầy đủ là Henri - Esmile - Benoit Matisse  (31/12/1869 - 3/11/1954) - là một họa sĩ người Pháp. Ông được biết đến với khả năng sử dụng màu sắc và chất lỏng và khả năng phác thảo nguyên bản. Henri Matisse là một người phác thảo, một người làm nghề in và là một nhà điêu khắc nhưng đồng thời cũng được biết đến nhiều nhất là một họa sĩ.
Henri Matisse được coi là một trong 3 họa sĩ gồm Pablo Picasso và Marcel Duchamp, là những người đánh dấu những mốc quan trọng tạo nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật.
Và Henri Matisse được "dán mác" là một con thú hoang bắt nguồn từ câu chuyện về bức chân dung Woman with a Hat (La femme au chapeau) - một bức tranh đã gây ra sự xáo động vì đã không đi theo lối truyền thống của hội họa Pháp cổ điển. Và sức mạnh trong những tác phẩm của Henri Matisse chính là lối vẽ biểu hiện sự biểu cảm của màu sắc.
Henri Matisse với những lao động nghệ thuật riêng biệt đã dành được vị trí người dẫn đầu trong Nghệ thuật hiện đại.

Matisse được sinh ra tại Le Cateau - Cambrésis, tại miền Bắc nước Pháp, là con trai của một thương gia thành đạt. Lớn lên tại Bohain -en-Vermandois, Picardie, Pháp. Trong năm 1887, ông tới Paris để học luật. Trong năm 1889, khi mẹ của Matisse mang tới cho ông những dụng cụ vẽ trong thời gian Matisse cần nghỉ dưỡng vì viêm ruột thừa, thì Matisse đã phát hiện ra một điều kỳ diệu, mà theo như lời Matisse mô tả "đó là một thiên đường khác". Ông đã quyết định trở thành một họa sĩ, điều mà làm cha của Matisse vô cùng thất vọng.
Năm 1891, Henri trở về Paris để theo đuổi học hội họa tại học viện Julian và trở thành một học trò của William-Adolphe Bouguereau và Gustave Moreau.
Ban đầu ông vễn vẽ tĩnh vật và phong cảnh với một phong cách truyền thống mà ông đã chịu sự ảnh hưởng bởi những bậc thầy trước đó như là Jean-Baptiste, Simeon Chardin, Nicolas Poussin và Antoine Watteau, cũng như các học sĩ hiện đại khác như là Esdouard Manet và nghệ thuật của người Nhật Bản. Chardin là một trong những họa sĩ mà Matisse ngưỡng mộ nhất, và khi là sinh viên ông đã vẽ lại 4 bức tranh của Chardin. 
Trong năm 1896 và 1897, Matisse đã thăm họa sĩ người Úc - John Peter Russell trên đảo Belle ngoài khơi Brittany. Russell đã giới thiệu với Henri về trường phái Ấn tượng và những công việc nghệ thuật của Van Gogh, và từ đó, phong cách của Henri Matisse đã thay đổi hoàn toàn.
Sau đó Matisse có nói rằng Russell chính là người thầy của mình, người đã giải thích về lý thuyết màu sắc cho ông.
Matisse đã kết hôn với người mẫu Caroline Joblau và năm 1894, con gái của ông là Marquerite chào đời.
Nhưng sau đó đến năm 1898, ông đã kết hôn lại với Amélie Noellie Parayre, và họ có 2 con trai, và cô con gái cùng người vợ sau chính là những người mẫu trong tranh của Matisse. 
(Tổng hợp)

 
Claude Monet - Một trong những họa sĩ sáng lập trường phái Ấn tượng (05-01-2017) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp
-------------------------------------
CẨM ANH (Tổng hợp)

Claude Monet (tên đầy đủ là Oscar - Claude Monet - 14/11/1840 - 5/12/1926) là họa sĩ nổi tiếng người Pháp - là một trong những người đồng sáng lập trường phái Ấn tượng Pháp.
Thuật ngữ "Ấn tượng" có nguồn gốc từ bức tranh của ông là Impression, soleil levant (Impression, Sunrise - Impre) được triển lãm trong năm 1874 với những cộng sự.

Monet sinh tại Paris năm 1840. Gia đình ông chuyển về Havre vùng Normandie khi ông được năm tuổi. Bố của Monet muốn ông tiếp tục nghề buôn bán thực phẩm khô của gia đình, nhưng Monet chỉ thích vẽ. Eugène Boudin, một nghệ sĩ thường vẽ trên bãi biển Normandie đã dạy Monet một vài kỹ thuật vẽ đầu tiên vào năm 1856.

Trong hai năm 1861 và 1862, Monet phục vụ trong quân đội ở Algérie. Lecadre, một người dì của Monet đồng ý giúp ông ra khỏi quân đội nếu Monet chịu theo những khoa học về nghệ thuật ở trường đại học. Monet rời quân ngũ vào trường đại học, nhưng ông không thích nhưng phong cách hội họa truyền thống được dạy ở đây.

Năm 1862, Monet theo học về nghệ thuật với Charles Gleyre ở Paris. Ông gặp Pierre-Auguste Renoir, người cùng ông sẽ sáng lập ra trường phái ấn tượng. Họ cùng nhau vẽ và tình bạn của họ kéo dài tới tận cuối đời.
Tham vọng của Monet là tái hiện quang cảnh của vùng nông thôn nước Pháp và với tham vọng này ông đã thay đổi những phương pháp vẽ khác nhau để nắm bắt được sự thay đổi của ánh sáng và sự chuyển biến giữa các mùa trong không gian, thời gian và thời điểm.
Từ năm 1899, Monet sống ở Giverny, ông đã mua một ngôi nhà tại đây và bắt đầu dự án cảnh quan rộng lớn, và nơi đây ông đã vẽ ao lily, và đây chính là đối tượng đã trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, và bức tranh một ao lily đang nở rộ với cây cầu bắc qua ao, và câu cầu này chính là đối tượng chính, trọng tâm khi nó được đặt ngang bức tranh.


Vợ của Monet cũng là một hình mẫu trong rất nhiều bức tranh của ông, đặc biệt là bức Femmes dans le jardin, vẽ khoảng cuối những năm 1860. Monet cùng Camille chuyển về một ngôi nhà ở Argenteuil, gần sông Seine, và họ có đưa con đầu lòng. Rồi họ đến sống ởVetheuil, nơi Camille qua đời ngày 5 tháng 9 1879. Monet đã vẽ cảnh Camille nằm chết trên giường. Sau đó Monet chuyển về một ngôi nhà ở vùng Giverny vùng Haute-Normandie, nơi ông có một khu vườn lớn.

Femmes dans le jardin,

Claude Monet,Femmes au jardin,© RMN-Grand Palais (Musée d'Orsay) / Hervé Lewandowski

Năm 1872, Monet vẽ một phong cảnh ở Havre: Ấn tượng mặt trời mọc (Impression, soleil levant), ngày nay được treo tại bảo tàng Marmottan ở Paris. Bức tranh được giới thiệu với công chúng năm 1874 trong cuộc triển lãm ấn tượng đầu tiên. Cuộc triển lãm không thành công như mọng đợi của các họa sĩ và gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ các nhà phê bình. Louis Leroy của báo Charivari đã mỉa mai dùng tên bức tranh của Monet để chỉ phong cách cuộc triển lãm: Ấn tượng. Trong cuộc triển lãm thứ ba của nhóm năm 1876, chính các họa sĩ đã dùng từ này để chỉ phong cách của mình.
Năm 1892, Monet thành hôn với Alice Hoschede.

 Impression, soleil levant - Bức tranh đánh dấu sự ra đời của trường phái Ấn tượng

Kết quả hình ảnh cho (Impression, soleil levant + monet

Thegioidep.info - Thế giới đẹp

 
Woman with a Hat (Henri Matisse) - bức tranh trường phái Dã thú (26-12-2016) 

Thegioidep.info - Thế giới đẹp
CẨM ANH 
----------------------------

Woman with a Hat (La femme au chapeau) - Sơn dầu trên vải - Kích thước: 80.65 cm × 59.69 cm ( 31 3⁄4 in ×  23 1⁄2 in) - Là một tác phẩm được vẽ bởi Henri Matisse. Tác phẩm vẽ Amelie, vợ của họa sĩ. 
Woman with a Hat được vẽ vào năm 1905 và triển làm tại Salon d'Automne vào mùa thu trong năm cùng với một vài họa sĩ khác.
Nhà phê bình Louis Vauxcelles, khi so sánh những bức tranh của Henri Matisse với những họa sĩ cùng triển lãm đã sử dụng một cụm từ tiếng Pháp  "Donatello chez les fauves..." (Donatello among the wild beasts), bình luận của  Louis Vauxcelles đã được in trên Gil Blas, một tờ báo hàng ngày vào ngày 17/10/1905 và Women with a Hat đã là trung tâm của những tranh cãi dẫn đến thuật ngữ Fauvistm, Fauvism hay Les Fauves - trường phái Dã thú.
Một nhà phê bình, Camille Mauclair đã không úp mở mà nói rằng "A pot of paint has been flung in the face of the public" - một lời phê bình thẳng thừng (tạm dịch: Một nồi sơn đã được ném thẳng vào mặt công chúng). Và có lẽ bởi những sự chỉ trích, những họa sĩ khởi đầu của trường phái Dã thú đã thu hút được sự chú ý của công chúng thời kỳ này và người ta đã cho rằng đó là sự gây sốc bởi màu sắc sống động, không tự nhiên, nét cọ lỏng, không hoàn thiện. 
Bức tranh Woman with a Hat đã được mua bởi Gertrude và Leo Stein đã tạo ra ảnh hưởng rất rõ ràng tới tinh thần của Henri Matisse mà trước đó ông đã bị tấn công và chịu đựng sự tấn công đó bởi chính tác phẩm của mình. Sau này, bức tranh đã được mua bởi nhiều người, và di chuyển qua nhiều nơi, Woman with a Hat đã được mua bởi gia đình Hass và năm 1990, Elise S.Hass đã tIt was a centerpiece in Sarah's home in Palo Alto, California for many years. During the 1950s, in San Francisco, it was bought by the Haas family. In 1990 Elise S. Haas để lại 37 bức tranh, tác phẩm điều khắc cho bảo tàng San Francisco Museum of Modern Art, trong đó có bức Woman with a Hat (La femme au chapeau).

Thegioidep.info - Thế giới đẹp


 
TP HCM – Triển lãm “Câu chuyện của tôi” của Nguyễn Tuấn Dũng (08-12-2016) 

Khai mạc: 18:00, thứ năm 08/12/2016
Triển lãm: 08 – 31/12/2016
Craig Thomas Gallery

Thông tin từ nhà tổ chức:

Mời các bạn đến xem “Câu Chuyện Của Tôi”, triển lãm cá nhân các tranh acrylic giấy dán của hoạ sỹ Hà Nội Nguyễn Tuấn Dũng.

Nguyễn Tuấn Dũng (1990), hoạ sỹ trẻ tài năng, sống và làm việc tại Hà Nội. Để chuẩn bị cho khai mạc triển lãm sắp đến, chúng tôi đặt một số câu hỏi phía dưới cho Dũng về bộ sưu tập Câu Chuyện Của Tôi, động lực, và những ảnh hưởng sáng tác của hoạ sỹ.

Em có thể kể về gia đình mình và cuộc sống của em lớn lên như thế nào không?

“Em sinh ra ở Thanh Hóa – thuộc Vùng Bắc Trung Bộ. Gia đình em làm nông nghiệp là chính. Em được gia đình ủng hộ cho học mỹ thuật từ sau khi tốt nghiệp cấp 3, tiếp tục học cao đẳng, Đại Học về mỹ thuật. Tuổi thơ bên gia đình luôn là nguồn cảm hứng, và là đề tài có ảnh hưởng lớn nhất đến những tác phẩm đầu trong bộ tranh lần này em ra mắt.”

Tại sao em chọn vẽ xe đạp thường xuyên như vậy, và tại sao em gọi chúng là “Người Bạn”?

“Bộ tranh lần này, là những hình ảnh gần như quen thuộc với rất nhiều người, và đối với em, em có rất nhiều cảm hứng, cảm xúc để có thể đưa vào những sáng tác của mình. Trong đó em đặc biệt có nhiều ấn tượng với những chiếc xe đạp, và em vẽ khá nhiều xe đạp. Bởi vì em có nhiều kỷ niệm gắn liền với chiếc xe đạp. Ví dụ như: Chiếc xe nam Phượng Hoàng của bố mẹ em để lại, nó gắn liền với bố mẹ em từ lúc mới quen nhau, xong cũng từ đó là phương tiện để bố mẹ bươn chải rất nhiều nghề phụ để kiếm tiền nuôi ba chị em ăn học, và trưởng thành như ngày hôm nay.

Em nghĩ rộng ra thì xe đạp cũng là phương tiện đi lại quen thuộc đối với người Việt Nam, và đặc biệt là những người lao động nghèo, là phương tiện chính giúp họ có công việc kiếm tiền bươn chải với cuộc sống. Nó cũng như là những người bạn quen thuộc với họ. Nên em chọn vẽ vì có những cảm xúc thật đặc biệt. Và gọi đó là “Người Bạn”, để ghi lại những hình ảnh quen thuộc và đẹp đẽ đó. Vì em biết chắc trong thời gian không xa nữa, những phương tiện khác cũng sẽ thay thế, rồi những chiếc xe đạp cũng dần dần ít và có thể không còn, mà chỉ còn trong tâm tưởng và kỉ niệm của mọi người.”

Tại sao em chọn trở thành hoạ sỹ?

“Em luôn thích thú với công việc vẽ tranh của em hiện tại, và ưu tiên nhiều thời gian cho vẽ tranh. Nói như giới trẻ bây giờ là “Mình thích thì mình vẽ thôi ạ.” Em nghĩ phải luôn phấn đấu nhiều nữa thì mới có thể đúng với danh hiệu họa sĩ. Em chọn vẽ tranh và có lẽ sẽ theo tới cùng, vì em thật sự thích nghề này.”

Giấy dán dường như là chất liệu khó sáng tác. Tại sao em chọn chất liệu này mà không phải là tranh trên vải bố?
“Em chọn vẽ trên giấy báo vì em thấy có rất nhiều điều hay trên những mặt báo. Qua nhiều lần thử nghiệm nhiều chất liệu, thì em thấy mình hợp với vẽ trên báo trong series tranh này, và trong thời gian này. Mặc dù chất liệu này khó xử lý và khó sáng tác. Hiện tại thì em vẫn đang thử nghiệm thêm nhiều chất liệu, để có thể có thêm nhiều sáng tác mới đa dạng hơn, như sơn dầu, lụa.”

Những câu chuyện và tiêu đề báo mà em chọn để vẽ lên có tầm quan trọng như thế nào? Em chọn chúng ngẫu nhiên hay có ý nghĩa sâu xa hơn?

“Có nhiều lần em chọn báo vẽ là ngẫu nhiên, có những tiêu đề báo ngẫu nhiên, nhưng đôi khi vẽ lại thấy có phần thích hợp. Còn đa số báo là do em chọn lọc về nội dung và hình ảnh, để phù hợp với hình ảnh trong tranh của mình hơn. Đầu tiên đó là những dòng chữ, hay hình ảnh trên báo như là một bề mặt sẵn rất bắt mắt và lạ khi đưa kết hợp với ngôn ngữ hội họa của em. Ngoài ra những title trên báo, nội dung trên báo mang tính thời sự và có tính thời đại, cũng là một dụng ý của em khi đưa vào những sáng tác, để đưa rõ ý đồ hơn tới người xem.”

Cảm hứng sáng tác của em đến từ đâu?

“Cảm hứng, và ý tưởng cho tác phẩm có thể đến bất chợt, hoặc là ý đồ muốn vẽ cái gì. Nguồn cảm hứng ảnh hưởng nhất tới tác phẩm của em, đó là những hình ảnh về tuổi thơ, về gia đình và những điều thân thuộc trong cuộc sống của em hằng ngày. Qua đó em muốn đưa câu chuyện từ cá nhân, để cùng liên kết với câu chuyện của xã hội, câu chuyện của tuổi thơ của quá khứ liên kết với câu chuyện của hiện tại và tương lai.

“Ví dụ: Trong một bức vẽ xe đạp, em luôn đưa những hình ảnh kèm theo khác, như chiếc nón lá, mũ cối, giỏ, hay mới đây nhất là chiếc bóng bay…cũng bắt nguồn cảm hứng từ những kỉ niệm của bản thân, từ ngày xưa, cho ý tưởng và đưa ra hình ảnh sao cho hợp lý nhất mà vẫn rõ câu chuyện của em trong đó. Xe đạp là từ câu chuyện của em, nhưng em muốn người xem có cái nhìn gần gũi mà thân quen, như chính hình ảnh câu chuyện của họ vậy. Vì đã có rất nhiều họa sĩ vẽ xe đạp, nhưng em muốn để lại một chút dấu ấn khác lạ hơn, và có yếu tố thân quen đặc trưng với người Việt Nam hơn.”

“Cảm hứng nhiều khi là những câu chuyện hằng ngày, những câu chuyện “nóng”, có thể do vô tình xem trên tivi, xem trên báo, từ đó có ý tưởng và bắt tay vào thực hiện. Vì em nghĩ là người họa sĩ cần bắt kịp với thời đại, và cần đưa ra tiếng nói của mình để hòa nhập với thời đại, để tạo nên những điều có ích cho xã hội mà mình đang sống bằng chính ngôn ngữ của hội họa.

Có điều gì em muốn nói với người xem hay có điều gì đặc biệt muốn người xem cảm nhận khi họ xem tác phẩm của em?

“Đam mê và vẽ theo đúng sở trường, tính cách và cảm xúc của mình, nên em mong người xem sẽ đồng cảm với những gì em muốn gửi gắm qua tác phẩm của em. Đó có thể là cảm giác vui, thích thú khi thấy một sự gần gũi gì đó giống tác giả, mà mình đã từng trải qua, hay có thể đồng cảm với những suy tư, trầm bổng, hay những trăn trở cùng tác giả.”

exhibition-my-story-nguyen-tuan-dung


Nguồn: hanoigrapevine.com

 
Triển lãm điêu khắc Hà Nội–Sài Gòn lần thứ tư (08-12-2016) 

Khai mạc: 17:00, thứ hai 12/12/2016
Trỉển lãm: 12 – 22/12/2016
Đại học Kiến trúc Hà Nội
Km 10, đường Nguyễn Trãi, Hà Nội

Thông tin từ nhà tổ chức:

Đã thành thông lệ, từ năm 2010, định kỳ 2 năm, một nhóm các nhà điêu khắc ở hai trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn nhất cả nước, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, lại cùng nhau tổ chức triển lãm chung. Triển lãm không chỉ giới thiệu các sáng tác mới nhất hoặc chưa từng công bố mà còn là dịp để các nhà điêu khắc hai đầu đất nước dành thời gian chia sẻ với nhau về các cơ hội công việc và định hướng nghề nghiệp, thúc đẩy sự mới mẻ trong lao động nghệ thuật của cá nhân, nhóm, cũng như phát hiện các nhân tố mới trong cộng đồng nghệ sĩ điêu khắc ngày càng lớn mạnh của đất nước.

Nhóm điêu khắc được hình thành từ năm 2010, với mục tiêu ban đầu là gây dựng và phát triển một tinh thần cộng đồng mới trong giới điêu khắc, đồng thời đưa nghệ thuật điêu khắc đến gần hơn nữa với cộng đồng xã hội. Chính vì thế, bên cạnh việc luân phiên tổ chức triển lãm ở hai thành phố, nhóm còn hướng đến mô hình triền lãm tại các không gian rộng lớn, dễ dàng hơn trong việc tiếp cận công chúng trẻ, trước tiên là những người cùng hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Các triển lãm trước lần lượt được diễn ra tại Đại học Mỹ thuật TPHCM, Đại học Văn hóa Hà Nội, Hội Mỹ thuật TPHCM và lần này là tại Đại học Kiến trúc Hà Nội. Nhóm đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình về nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ triển lãm của những đơn vị nói trên.

the-4th-hanoi-saigon-sculpture-exhibition-bui-hai-son
Tác phẩm của Bùi Hải Sơn

Trong lần triển lãm thứ tư này, nhóm tập hợp được một đội ngũ thành viên đông đảo nhất từ trước đến nay, 28 nghệ sĩ với 56 sáng tác. Khoảng cách thế hệ giữa các nghệ sĩ là rất lớn, từ những người sinh ra trong nửa cuối thập niên 1940, 1950 đến cuối thập niên 1980, cộng với cá tính sáng tạo, môi cảnh học tập, nghiên cứu, làm việc khác nhau, chắc chắn sẽ mang đến cho công chúng một sự đa dạng, phong phú các khuynh hướng và quan niệm sáng tác điêu khắc hiện nay. Lần đầu tiên, triển lãm có thành viên là một nghệ sĩ trẻ người Việt nhưng học tập và trưởng thành ở Hoa Kỳ, nghệ sĩ trẻ Lê Hoài Nam.Anh từng có một triển lãm cá nhân ở Hà Nội năm 2011. Sự đa dạng về kích thước và chất liệu, với gỗ, sắt hàn, inox, đồng, chất liệu tổng hợp,… của các sáng tác trong triển lãm tiếp tục là một điểm hấp dẫn công chúng, qua đó, thấy được trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp cũng như kinh nghiệm thẩm mỹ của mỗi nghệ sĩ, của cả nhóm như một phần thú vị của đời sống điêu khắc đương đại Việt Nam.

Song song với triển lãm là hoạt động giao lưu, trao đổi nghề nghiệp với một buổi trò chuyện nghệ thuật, chủ đề Điêu khắc với không gian và kiến trúc, diễn ra tại Đại học Kiến trúc Hà Nội, từ 9h sáng ngày 13 – 12 – 2016, do nhà nghiên cứu mỹ thuật Vũ Huy Thông, Viện Mỹ thuật – Đại học Mỹ thuật Việt Nam điều phối, cùng sự tham gia trao đổi của các nhà điêu khắc trong nhóm.

Tác phẩm của Khổng Đỗ Tuyền
Tác phẩm của Khổng Đỗ Tuyền

Danh sách tác giả tham gia Triển lãm Điêu khắc Hà Nội – Sài Gòn từ lần đầu tiên, năm 2010, đến nay:

1. Ca Lê Thắng/sinh năm 1949, TPHCM, tham gia lần 4, 2016.
2. Đào Châu Hải/ sinh năm 1955, Hà Nội, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
3. Phan Phương/sinh năm 1957, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
4. Bùi Hải Sơn/ sinh năm 1957, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
5. Hoàng Tường Minh/sinh năm 1962, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
6. Nguyễn Chí Thanh/sinh năm 1964, TPHCM, tham gia lần 4, 2016
7. Vũ Hà Nam/sinh năm 1962, TPHCM, tham gia lần 3, 2014, và 4, 2016.
8. Vũ Quang Sáng/sinh năm 1965, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
9. Trần Việt Hưng/sinh năm 1968, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
10. Phạm Minh Chiến/sinh năm 1971, TPHCM, tham gia lần 4, 2016
11. Lê Lạng Lương/sinh năm 1974, Hà Nội, tham gia lần 4, 2016
12. Khổng Đỗ Tuyền/ sinh năm 1974, Hà Nội, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
13. Nguyễn Huy Tính/ sinh năm 1974, Hà Nội, tham gia lần 2, 2012, và 4, 2016
14. Nguyễn Hoài Huyền Vũ/ sinh năm 1974, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
15. Trần Mai Quốc Khánh/sinh năm 1976, TPHCM, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
16. Nguyễn Ngọc Lâm/sinh năm 1977, Hà Nội, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
17. Phạm Thái Bình/sinh năm 1978, Hà Nội, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
18. Trần Trọng Tri/ sinh năm 1978, Hà Nội, tham gia cả 4 lần, từ 2010 đến nay
19. Phạm Bảo Sơn/sinh năm 1979, Hà Nội, tham gia lần 3, 2014 và 4, 2016.
20. Trần Văn An/ sinh năm 1981, Hà Nội, tham gia lần 3, 2014 và 4, 2016.
21. Hoàng Mai Thiệp/sinh năm 1982, Hà Nội, tham gia lần 4, 2016
22. Nguyễn Duy Mạnh/sinh năm 1984, Hà Nội, tham gia lần 4, 2016
23. Thái Nhật Minh/ sinh năm 1984, Hà Nội, tham gia 3 lần, từ năm 2012
24. Vũ Bình Minh/sinh năm 1985, Hà Nội, tham gia lần 4, 2016
25. Trần Mai Hữu Quí/ sinh năm 1986, TPHCM, tham gia lần 4, 2016
26. Lương Văn Trịnh/ sinh năm 1985, Hà Nội, tham gia lần 4, 2016
27. Lê Hoài Nam/sinh năm 1986, tham gia lần 4, 2016
28. Phạm Đình Tiến/ sinh năm 1988, TPHCM, tham gia lần 4, 2016

Nguồn: hanoigrapevine.com

 
Gustav Klimt và những bức họa dát vàng (26-12-2016) 

Gustav Klimt (1862 – 1918) là một họa sĩ người Áo theo trường phái tượng trưng. Tranh của ông đặc trưng với chủ thể lớn là vẻ đẹp thể xác của người phụ nữ. Theo đó, Klimt thể hiện sự cuốn hút trong vẻ đẹp của người phụ nữ bằng những nét vẽ chân thật, thoát khỏi sự ước lệ và lý tưởng hóa của những họa sĩ thuộc thế hệ trước.

Gustav Klimt là người con thứ hai trong một gia đình có 7 anh chị em. Ông và hai em trai đều có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ. Cha ông – Ernst Klimt là một thợ kim hoàn, chuyên chạm khắc những đồ trang sức bằng vàng. Mẹ ông - bà Anna Klimt cũng có năng khiếu với âm nhạc, trong cuộc đời, bà luôn có một ước mơ được trở thành nhạc công chuyên nghiệp.

Klimt từ nhỏ đã sống trong nghèo khó nhưng ông vẫn được cha mẹ tạo điều kiện ăn học đàng hoàng. Ông từng theo học trường Mỹ thuật – Điêu khắc ở thành phố Viên của Áo. Ban đầu, Klimt tuân thủ theo những chuẩn mực sáng tác truyền thống được học ở trường, những tác phẩm của ông mang đậm chất cổ điển.

Cho tới năm 1892, khi lần lượt cha và một người em trai của Ernst qua đời, lúc này ông phải chịu trách nhiệm chu cấp cho mẹ, những đứa em còn chưa thể tự lập và gia đình nhỏ của cậu em. Đây được coi là bi kịch cả về tình cảm và vật chất đối với Klimt. Nó đã ảnh hưởng tới góc nhìn nghệ thuật của ông. Kể từ đây, ông phát triển phong cách nghệ thuật mới, mang đậm màu sắc cá nhân, tôn thờ chủ nghĩa phồn thực.

Bức Judith với nhiều chi tiết dát vàng ở phần nền

Bức "Judith" với nhiều chi tiết dát vàng ở phần nền

“Tai nạn nghề nghiệp” lớn nhất trong sự nghiệp của Klimt xảy ra vào năm 1894. Khi đó, Klimt được mời vẽ ba bức tranh để trang trí trên trần của tòa sảnh chính thuộc trường Đại học Viên. Khi hoàn thành, ba bức tranh được mang tên Vật lý, Dược và Luật. Chúng đã bị phê phán dữ dội vì xu hướng nghệ thuật cực đoan và bị coi là những tác phẩm “khiêu dâm”.

Sau đó, ông vẽ bức “Nuda Verita” (1899) như một bản tuyên ngôn mạnh mẽ về phong cách nghệ thuật mới mà mình theo đuổi. Trong đó, một người phụ nữ tóc đỏ khỏa thân nắm trong tay một chiếc gương mà ông gọi là “chiếc gương sự thật”, trên đầu cô là lời trích dẫn của triết gia người Đức Friedrich Schiller: “Nếu bạn không thể làm hài lòng đa số, hãy làm hài lòng thiểu số. Làm hài lòng đa số thật tệ hại.”

Một giai đoạn nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Klimt là “Giai đoạn Hoàng kim”. Các sáng tác thời kỳ này nhận được nhiều đánh giá tích cực của giới phê bình. Nhiều bức sử dụng những lá vàng ròng làm chất liệu. Nổi tiếng nhất là hai bức “Portrait of Adele Bloch-Bauer I” (Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I, vẽ năm 1907) và “The Kiss” (Nụ hôn, 1907).

Bức “Portrait of Adele Bloch-Bauer I”

Bức “Portrait of Adele Bloch-Bauer I” (Chân dung của Adele Bloch- Bauer I)

Người ta thường nói rằng, vì cha của Klimt là một người thợ kim hoàn chuyên chạm khắc những đồ trang sức bằng vàng nên Klimt từ nhỏ đã bị “ám ảnh” bởi vẻ đẹp lấp lánh của vàng. Ông coi đó là chất liệu tuyệt mỹ và nhờ những kỹ thuật tiếp thu được từ cha, ông đã cho ra đời những tác phẩm độc đáo và đắt giá hàng đầu thế giới.

Bức “The Kiss” (Nụ hôn) được coi là sáng tác đỉnh cao trong sự nghiệp của Klimt. Trong đó, ông dùng những lá vàng dát lên nhân vật. Ngày nay, “The Kiss” được coi là một trong những biểu tượng cho hội họa thế kỷ 20. Nó đã “tóm tắt” tình yêu trong một hình ảnh tuyệt đẹp. Vẻ say mê trên khuôn mặt người phụ nữ, vòng tay bảo vệ đầy tôn kính như đang ôm một nữ thần của người đàn ông đã cho thấy một tình yêu hoàn hảo.

Bức The Kiss

Bức "The Kiss"

Nhưng bức tranh thể hiện rõ nhất phong cách vẽ của Klimt phải kể đến “Danae”. Nó hội tụ cả sự đam mê với vàng, với vẻ đẹp của phụ nữ và dục vọng trong tính cách Klimt. Nàng Danae là một nhân vật tồn tại trong thần thoại Hy Lạp. Danae là con gái của vua Acrisius xứ Argos. Vì không có con trai nối dõi nên Acrisius tới hỏi một nhà tiên tri liệu có thể thay đổi điều này không.

Nhà tiên tri bảo rằng nhà vua sẽ bị chính cháu trai, con của nàng Danae giết chết. Khi đó, Danae chưa lấy chồng, để tránh việc Danae sinh con, nhà vua đã nhốt cô vào một tòa tháp. Thần Dớt biết chuyện đã tới thăm nàng công chúa xinh đẹp. Ngài hóa thành một cơn mưa vàng và tình tự với Danae khiến nàng có mang. Sau đó, đứa con trai của họ là Perseus đã ra đời.

Bức Danae

Bức "Danae"

Vào đầu thập niên 1890, Klimt gặp Emilie Louise Floge và người phụ nữ này trở thành người đồng hành trong suốt cuộc đời ông. Tuy vậy, bên cạnh Floge, Klimt vẫn qua lại với rất nhiều phụ nữ khác. Mối quan hệ giữa ông và người bạn gái chính thức vẫn luôn là điều gây tranh cãi trong giới nghiên cứu tiểu sử.

Họ cho rằng giữa Klimt và Floge tồn tại một thứ tình cảm không chỉ đơn thuần là tình yêu mà còn là tình bạn, sự ngưỡng mộ. Họ dành cho nhau những khoảng trống riêng tư trong cuộc đời. Klimt là cha của ít nhất 14 đứa con và cho tới nay, người ta vẫn không biết con số thực chất là bao nhiêu.

Bức “The Tree of Life” (Cây đời) với những chi tiết dát vàng

Bức “The Tree of Life” (Cây đời) với những chi tiết dát vàng

 
Năm 1918, Klimt qua đời vì một cơn đột quỵ.  Ông ra đi để lại rất nhiều bức tranh chưa được hoàn tất. Hiện nay, tranh của Klimt nằm trong top những tác phẩm đắt giá nhất trên thị trường. Năm 2003, một tác phẩm của ông được bán với giá hơn 29 triệu đô la, mở ra thời kỳ hậu thế bắt đầu chuộng tranh Klimt. Những bức sau này mang thương hiệu Klimt cũng đều được bán ở mức hàng chục triệu đô la. Nổi tiếng nhất là bức “Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I” từng được trả giá tới 135 triệu đô la.
 
Ông là một trong mười họa sỹ vĩ đại nhất thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 20) do tạp chí Times bình chọn.
 
Pi Uy
Tổng hợp
(Nguồn: Dân trí)

 
[1] 2 3 4 5 6 7 8  Sau

Tin đã đăng

Bộ sưu tập tác phẩm của danh họa Picasso trị giá hơn 6229 tỉ đồng (26-12-2016)
Quý tộc châu Âu xa hoa trong tranh James Tisssot (29-11-2016)
Leonardo Da Vinci - Danh họa thời kỳ Phục Hưng (26-12-2016)
Đẹp mong manh những chiếc lá (29-11-2016)
Chân dung quý bà Isabella d’Este - Leonardo da Vinci (26-12-2016)
Dự án nghệ thuật đương đại 'Boîte' (29-11-2016)
Những bức tranh của Việt Nam được thế giới trả giá bạc tỷ (26-12-2016)
Bức tượng Thành Cát Tư Hãn lớn nhất thế giới (29-11-2016)
Hành trình kỳ diệu của một siêu phẩm hội họa (29-11-2016)
 
VIDEO