thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 

Quần đảo La Maddalena - nơi du lịch lý thú (19-07-2010) 

La Maddalena, một quần đảo nhỏ trước bờ biển Sardinia, là một điểm đến khá hấp dẫn. Không chỉ có rùa và người vùng Sardinia yêu thích sự yên tĩnh nơi này vào mùa hè mà ngày càng nhiều du khách muốn đến nghỉ mát ở đây...

Giống như một Na Uy bên bờ Địa Trung Hải, La Maddalena là những vách núi dựng đứng, những Fjord (vịnh hẹp) nhưng mang không khí vùng biển phía nam với những hàng cọ, những cánh rừng thông và đỗ tùng nhỏ, những bụi trúc đào khổng lồ nở hoa rực rỡ. Thêm vào đó là những bãi biển đẹp như mơ được bao bọc bởi những vách đá nhiều hình thù thú vị.

Bảy hòn đảo chính nằm rải rác nơi đây đã trở thành khu công viên quốc gia từ 15 năm nay nhưng chỉ trên hòn đảo Maddalena, hòn đảo lớn nhất mà tên của nó cũng là tên của cả quần đảo là có người sinh sống quanh năm.

Cứ nửa tiếng lại có phà từ Palau cập bến, vừa cung cấp hàng hóa vừa mang du khách đến đây. Khu chính của quần đảo khá nhộn nhịp với nhiều nhà hàng, quán bar và cafe. Những ngôi nhà sập xệ và những lán trại quân đội sắp đến ngày sụp đổ như muốn nhắc lại chỉ cách đây không lâu La Maddalena còn là một địa điểm đóng quân chính của quân đội Mỹ ở Địa Trung Hải.

Dự định phiên họp thường kỳ của 8 quốc gia mạnh nhất thế giới G8 sẽ diễn ra tại đây vào tháng 7-2009, nhưng sau trận động đất kinh hoàng mới đây ở Abruzzo, thủ tướng Ý Berlusconi cùng chính phủ đã quyết định dời địa điểm về L"Aquila, thủ phủ vùng bị động đất.

Nếu có cuộc họp, dĩ nhiên đó sẽ là một quảng cáo vô giá cho quần đảo này, nơi lợn rừng vẫn để lại nhiều dấu vết và những chú rùa vẫn tự nhiên bò ngang qua đường như giữa chốn đồng không mông quạnh. Nhưng không như những dự định đã đặt ra thì La Maddalena vẫn sẽ có những tháng mùa hè thanh bình vốn có.
 
 
Toàn cảnh La Maddalena
 
 
Bến cảng La Maddalena về đêm
 
 
Quảng trường ở La Maddalena
 
 

Những tảng đá hoa cương nơi đây:

Nhưng những khối nhà bê tông xấu xí cũng chả là vấn đề gì, khi bạn đang có mặt trên con đường Panorama vòng quanh đảo để đến những bãi biển tuyệt vời như Bassa Trinità hay Spalmatore. Những bãi biển thoai thoải của La Maddalena cũng đẹp không kém gì những bãi biển trên đảo Corse (Corsica) với những dải núi của các hòn đảo trên đất Pháp hiện ra mờ ảo phía chân trời.

Tại đây, bạn sẽ có những giờ phút thư giãn tuyệt vời trong làn nước của vịnh Nido d"Aquila (Tổ chim đại bàng). Nếu cần một chút náo nhiệt bạn có thể đến khu cảng với những ngôi nhà từ thế kỷ thứ 18 và vô vàn các cửa hàng bán thảm dệt theo kiểu Sardinia. Sản phẩm của biển cả ở đây rất phong phú đến mức bất cứ ai sành ăn cũng phải ngạc nhiên. Từ một quán bar hay trên ban công của phòng khách sạn buổi tối bạn có thể quan sát thuyền bè vẫn còn vào ra tấp nập nối giữa đảo với Palau.
 
Bãi biển nước xanh trong
 
 
Bãi biển và những tảng đá đủ hình thù
 
 
Bãi biển lý tưởng
 
 
Có một con đê nhỏ và một cây cầu nối giữa hai hòn đảo chị em La Maddalena và Caprera. Rừng và cây cối ở Caprera phong phú hơn, hình thù của những tảng đá cũng hấp dẫn và thú vị hơn. Nhưng để tìm những bãi biển trên đảo Caprera thì có khó khăn hơn bởi chúng thường nằm cách biệt và muốn đến đó bạn phải đi bộ hoặc di chuyển khá xa.
 
Những tảng đá đủ mọi hình thù
 
 
Thảm thực vật xanh tươi kéo dài ra tận sát bờ biển
 
 
 
Sóng biển rì rầm
 
 
Du khách đến Caprera thường không quên đến thăm vị anh hùng dân tộc Ý - Giuseppe Garibaldi. Trong khu rừng thông rậm rạp vẫn còn ngôi nhà của ông - Casa Bianca - nơi ông đã về sống sau bao năm chiến đấu và cống hiến cho nước Ý và cũng là nơi ông ra đi mãi mãi vào năm 1822 và một mộ bia với đơn giản.
 
Hải đăng trên đảo
 
 

Buổi tối sau khi đã đóng xong vali bạn có thể ngồi cùng nhau thưởng thức những giây phút cuối cùng trên thị trấn cảng La Maddalena. Những chuyến phà vẫn lặng lẽ đưa người đi kẻ đến. Và phía xa trên những ngọn núi của Sardinia người ta có thể chiêm ngưỡng những đụn mây đủ loại hình thù. Trông chúng cũng khá giống với những hình thù được tạo nên từ đá granit trên hòn đảo này.

Bỗng nhiên như từ trong hư vô xuất hiện đàn chim én chao liệng trên bầu trời đang chuyển về đêm. Từ quán bar trên cảng tiếng nhạc disco vẫn vang lên và người ta vẫn thưởng thức những cốc rượu Grappa. Rồi quần đảo cứ chìm dần chìm dần vào sự tĩnh lặng. Đây chưa phải là điểm cuối cùng của thế giới, nhưng từ đây đến đó cũng không còn bao xa nữa!
 
 
Amsterdam - thành phố lớn thứ 6 châu Âu (16-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Hà Lan, xứ sở của hoa Tuy lip, của cối xay gió và những chiếc xe đạp, đội bóng với biệt danh "Cơn lốc màu da cam" và tại xứ sở này còn có thủ đô Amsterdam - một trong những trung tâm văn hóa hàng đầu Châu Âu.
Amsterdam - một thành phố lớn nhất và là trung tâm chính trị kinh tế, văn hóa của Hà Lan, nhưng Amsterdam cũng là một thành phố lớn của Thế giới, lớn thứ 6 của châu Âu.
Bắt nguồn của thành phố Amsterdam ngày nay, là một thành phố được thành lập vào thế kỷ 12 từ một làng chài nhỏ bên bờ sông Amstel.
Thành phố nằm ở tỉnh Noord-Holland của Hà Lan
Tên của thành phố có nguồn gốc từ Amstellerdam, chỉ xuất xứ của thành phố: một đập trong sông Amstel.
Việc sử dụng tên gọi Amsterdam sớm nhất được ghi chép là một chứng chỉ từ ngày 27 tháng mười 1275, khi các cư dân, những người đã xây dựng một cây cầu với một đập qua sông Amstel, được miễn nộp phí sử dụng cầu bởi Công tước Floris V.
Amsterdam đã trở thành một trong những cảng quan trọng nhất trên thế giới trong thời kỳ hoàng kim Hà Lan, một kết quả của sự phát triển sáng tạo trong thương mại.
Amsterdam còn là trung tâm tài chính và kim cương hàng đầu thế giới .
Trong thế kỷ 19 và 20, thành phố mở rộng, và nhiều khu vực lân cận và các vùng ngoại ô mới được thành lập.
 
Nhiều tổ chức lớn của Hà Lan có trụ sở chính của họ ở đây, và 7 trong 500 công ty hàng đầu thế giới, bao gồm Philips và ING, có trụ sở ở thành phố này .
 
Đường phố Amsterdam trong ngày lễ Giáng sinh
 
Amsterdam street scene at Christmas
 
Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam, thị trường chứng khoán lâu đời nhất trên thế giới nằm ở trung tâm thành phố. Địa điểm thu hút chính của Amsterdam bao gồm các kênh lịch sử của nó, Rijksmuseum, bảo tàng Van Gogh, Hermitage Amsterdam, nhà Anne Frank, phố đèn đỏ, và các quán cà phê cần sa thu hút hơn 3.660.000 du khách quốc tế mỗi năm .
 
Thành phố với những ngôi nhà gọn gàng với màu sắc kết hợp rất đẹp và hình khối vuông vắn
 
 
Sefer Torah, là tài liệu quan trọng nhất trong tôn giáo Do Thái và được viết bằng tiếng Do Thái của trên da.
 Nó còn được gọi là Ngũ Sách của Moses, Hoặc Ngũ Kinh. Những cuộn Torahs được giữ gìn bởi các bao thêu gọi là Mapah và đầu bao thêu được gắn vương miện bạc hoặc Rimonim được lưu giữ tại Amsterdam, Hà Lan
 
Torah scrolls
 
Amsterdam có một trong những trung tâm phố cổ lớn nhất châu Âu.
Dù Amsterdam là thủ đô chính thức của Hà Lan, thành phố này chưa bao giờ (trừ một giai đoạn ngắn từ 1808 đến 1810) là nơi đóng đô của triều đình hoặc là nơi đặt trụ sở của Chính phủ hay trụ sở Quốc hội Hà Lan.
Các cơ quan này đóng ở Den Haag.
Amsterdam là thành phố lớn nhất của tỉnh Bắc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Noord-Holland), tỉnh có thủ phủ là Haarlem.
 
Một tour du lịch trên sông tại Amsterdam

Guided Boat Tour in Amsterdam

Trong tháng 10 năm 2008, nhà địa lý lịch sử Chris de Bont đề xuất rằng các vùng đất xung quanh Amsterdam đã được khai hoang sớm nhất là vào cuối thế kỷ 10.
Amsterdam đã được cấp quyền thành phố trong năm 1300 hay 1306 .

Một nhà hàng cafe tại Canal, Amsterdam, với phong cảnh của thiên nhiên tuyệt vời với con cầu bắc qua sông và những hàng cây lá rủ
 
Cafe at a Canal
 
Từ thế kỷ 14 ngày, Amsterdam đã phát triển, chủ yếu do thương mại với Liên minh Hanseatic.
Năm 1345, một phép lạ Thánh Thể trong Kalverstraat đã khiến thành phố thành một địa điểm quan trọng của dân hành hương cho đến khi nhận con nuôi của đức tin Kháng Cách - Stille Omgang-một đám rước im lặng trong trang phục dân sự - ngày nay là một dấu tích của lịch sử hành hương.
Vào thế kỷ 16, người Hà Lan đã nổi dậy chống Philip II của Tây Ban Nha và những người kế nhiệm ông.
Lý do chính của cuộc khởi nghĩa là do việc áp dụng các thuế mới, ngược đãi tôn giáo đối với tín đồ Tin lành bởi Tòa án dị giáo Tây Ban Nha.

Đèn đường như những mắc áo và một quán cafe nơi góc phố

Amsterdam street scene at Christmas

Cuộc nổi dậy đã leo thang thành chiến tranh 80 năm, cuộc chiến dẫn đến độc lập cho Hà Lan.
Bị thúc đẩy mạnh mẽ bởi cuộc thủ lĩnh cách mạng Hà Lan William trầm lặng, Cộng hoà Hà Lan đã trở thành nổi tiếng về sự khoan dung tương đối về tôn giáo.
Người Do Thái từ bán đảo Iberia, người Huguenot từ Pháp, các thương gia giàu và các nhà in từ Flanders, những người tỵ nạn về kinh tế, tôn giáo và người tị nạn từ các khu vực do Tây Ban Nha kiểm soát thuộc các quốc gia thấp đã tìm thấy sự an toàn tại Amsterdam.
Các nhà in Flemish nhập cư và sự khoan dung trí thức đã biến thành phố Amsterdam thành một trung tâm tự do báo chí của châu Âu .
 
Những món quà kỷ niệm về đất nước hoa tuylip Hà Lan (ảnh phải)
 
Boats on the Prinsengracht canal  Amsterdam  Holland Souvenirs for Sale at the Bloemenmarkt
 
Thế kỷ 17 được coi là thời kỳ hoàng kim, trong thời gian này Amsterdam đã trở thành thành phố giàu có nhất trên thế giới
Những con Tàu khởi hành từ Amsterdam đến biển Baltic, Bắc Mỹ., Và Châu Phi , cũng như ngày nay là Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka, và Brazil, tạo thành cơ sở của một mạng lưới kinh doanh trên toàn thế giới.
Các thương nhân của Amsterdam đã là các cổ đông lớn nhất trong cả hai Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Tây Ấn Hà Lan.
Các công ty này mua lại tài sản ở nước ngoài mà sau này trở thành thuộc địa Hà Lan.
Amsterdam là điểm vận tải hàng hóa quan trọng nhất của châu Âu và là trung tâm tài chính hàng đầu của thế giới Năm 1602, văn phòng Amsterdam của Công ty Đông Ấn Hà Lan đã trở thành sở giao dịch chứng khoán đầu tiên trên thế giới do kinh doanh cổ phần riêng của mình.
Amsterdam mất hơn 10% dân số của nó do bệnh dịch hạch giai đoạn các năm 1623-1625, và một lần nữa năm 1635-1636, 1655, và 1664.

 

I amsterdam sculpture near the Rijksmuseum, Amsterdam, Netherlands, Europe


Dân số của Amsterdam tăng trong thế kỷ 17 (phần lớn thông qua nhập cư) từ 50.000 đến 200.000
Sự thịnh vượng của Amsterdam bị suy giảm trong thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Các cuộc chiến tranh của nước Cộng hoà Hà Lan với Anh và Pháp đã thiệt hại lớn tại Amsterdam.
Trong các chiến tranh Napoleon, vai trò quan trọng của Amsterdam đạt đến điểm thấp nhất, với Hà Lan đang được nhập vào Đế quốc Pháp thứ nhất.
Tuy nhiên, việc thành lập Vương quốc Hà Lan thống nhất năm 1815 đánh dấu một bước ngoặt.
 
Bảo tàng Rijks
 
 
Rijksmuseum, Amsterdam, Holland
 
Bảo tàng lịch sử Amsterdam cũng thu hút du khách đến thăm quan và tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của thành phố, đồng thời được chiêm ngưỡng hơn 700 tác phẩm hội hoạ và 700 bức thư của hoạ sỹ tài ba Van Gogh cũng như các tác phẩm của các hoạ sĩ trước thế kỷ 19 tại bảo tàng Van Gogh mang tên Amsterdam Arts Adventure.
Đây nơi chọn lọc nhiều sự kiện, lễ hội đặc biệt và các buổi hoà nhạc lớn với sự tham gia của các nghệ sỹ nổi tiếng thể giới, thường được tổ chức tại thủ đô của Hà Lan vào mùa hè hàng năm.
Amsterdam còn được biết đến rộng rãi là thành phố nhiều xe đạp.
 
Là thành phố của xe đạp, nên những chiếc xe đạp cũng cần những hiệu lệnh giao thông
 
Bicycle Traffic Light View of Amsterdam from Zuiderkerk
 
Thành phố này có khoảng 600.000 chiếc xe đạp trên tổng số 730.000 nghìn dân. Từ thời sơ khai, thành phố đã được xây dựng dành riêng cho khách bộ hành hồi thế kỷ 17.
Mọi người sử dụng xe đạp trong mọi hoạt động, như đi làm, đi học, đi chơi, đi mua sắm…
 
Chiếc xe đạp trên phố tại Amsterdam, Hà Lan
 
Two bikes warning sign hidden behind ivy  Amsterdam  Holland.
 
Amsterdam còn có biệt danh là thành phố của môn trượt Skate.
Đặc biệt, mùa hè là thời gian diễn ra nhiều sự kiện và các chuyến tour ngay trong thành phố hay đến các vùng phụ cận. Trong đó, Friday night Skate (trượt Skate vào tối thứ 6) được coi là một trong những sự kiện được nhắc đến nhiều nhất ở Amsterdam
Ẩm thực của
Amsterdam cũng có nhiều nét độc đáo. 
Bắt đầu một ngày mới với bữa sáng gồm có bánh mì tươi kẹp bơ, mứt, giăm bông hoặc sôcôla.
Vào mùa đông, món súp Hà Lan cũng là một trong những món yêu thích của người Hà Lan
 
Xe đạp và hoa tuylip - hai biểu tượng của Amsterdam
  
Tulips on Bicycle Above Canal
 
Khu bán giống hoa tuylip
 
Tulip Bulbs for Sale at Market in Amsterdam
 
Hoa tulip bằng gỗ
 
Wooden Tulips at Floating Flower Market in Amsterdam
 
Hoa tuylip nở rộ trong vườn Keukenhof 
 
Tulips in Keukenhof Gardens
 
Cối xay gió
 
Windmills, Schermerhorn, North Holland, Holland
 
Sân vận động rực rỡ màu sắc Amsterdam ArenA 
 
Colorful Seats in Amsterdam ArenA
 
(Thegioidep.info - nguồn: Wikipedia, Ảnh: Corbis)

 
Thành phố Stockholm - thành phố đẹp nhất thế giới (14-07-2010) 

Nét cổ kính của thị trấn cổ Gamla Stan, những cánh rừng nguyên sinh xanh tốt của đảo Djurgården, những vách đá kỳ vĩ nhô ra biển ở quận Södermalm và cả một vùng biển trong xanh bao quanh... Tất cả, đã kết hợp lại để Stockholm trở thành một trong những thành phố đẹp nhất thế giới.
 
 
Thành phố Stockholm, Thụy Điển được ưu ái dành cho những cái tên như “Thủ đô của những thủ đô vùng Scandinavia”, “Một trong những thành phố đẹp nhất thế giới”, “Con đường dẫn đến giải thưởng Nobel”, hay “Thành phố của mọi cảm giác”.
 
Nằm ở phía Đông bán đảo Scandinavia, Stockholm được thành lập năm 1255 gồm 14 hòn đảo nhỏ với nhiều hồ lớn. Đây là một đô thị lớn với những công trình xây dựng vừa cổ kính vừa hiện đại và hòa nhập một cách hài hòa với thiên nhiên.
 
Toàn thành phố có hơn 50 chiếc cầu và hàng trăm viện bảo tàng, nhà hát, các công trình kiến trúc văn hóa đồ sộ. Rất nhiều bảo tàng ở thành phố này luôn có sự cuốn hút đặc biệt du khách như Bảo tàng đồ chơi, bảo tàng khiêu vũ, bảo tàng bướm, bảo tàng bưu điện, bảo tàng tiền, bảo tàng phương tiện giao thông, bảo tàng thuốc lá và que diêm, rượu...
Điểm trung tâm của thành phố Stockholm cả về mặt địa lý lẫn lịch sử là thị trấn cổ Gamla Stan. Thị trấn trung cổ được bảo tồn tuyệt vời này là nơi được thành lập đầu tiên ở thành phố, luôn giữ được sự quyến rũ lớn nhất của nó cũng như vị trí trung tâm của sức mạnh Thụy Điển, sở hữu cung điện Riksdag và cung điện Hoàng gia.

Đến thăm Stockholm, bạn chắc chắn sẽ thích lang thang quanh mê cung những con hẻm hẹp của Gamla Stan. Nằm chen chúc trong những con phố rải cuội là những tòa nhà bằng đá từ thế kỷ 17,18. Phong cảnh biển xanh giữa những dãy căn hộ hẹp khiến du khách khi đi dạo ở Gamla Stan cứ chốc chốc lại muốn dừng chân chụp một bức ảnh.

Đó là một vẻ đẹp mang tính thẩm mỹ cao, có thể so sánh với bất cứ thành phố nào ở châu Âu và dễ dàng chứng minh cho du khách thấy tại sao thành phố Stockholm lại tự hào gọi Gamla Stan là "Venice của Bắc Âu".

Một cách tự nhiên, Gamla Stan hấp dẫn một lượng đáng kể khách du lịch đến thành phố Stockholm. Trên thực tế, phố Västerlånggatan ở đây là nơi tốt nhất Thụy Điển để bạn tìm mua một chiếc áo Tre Kronor - biểu tượng của Thụy Điển và mũ Viking bằng nhựa. Nhưng mặc dù nhiều người và diện tích nhỏ bé, Gamla Stan vẫn đủ rộng để khiến bạn bị lạc bước và khám phá những chốn thú vị ít biết đến.

Chỉ riêng thị trấn nhỏ Gamla Stan cũng đủ gây ấn tượng cho bất kỳ chuyến thăm nào tới thành phố Stockholm và khiến Stockholm trở thành một điểm du lịch không thể bỏ qua. Nhưng TP. Stockholm không chỉ có vậy. Djurgården là một điểm đến quan trọng khác. Hòn đảo rộng lớn có cây xanh bao phủ này đã từng là nơi săn bắn của hoàng gia và ngày nay những cánh rừng của nó trở thành một điểm nghỉ dưỡng của thành phố.
 
 
 
Thành phố Stockholm có tới 70 bảo tàng, trưng bày hiện vật thuộc mọi lĩnh vực, từ lịch sử Viking thời kỳ đầu đến dịch vụ bưu điện Thụy Điển. Trong số đó có hai nơi không thể bỏ lỡ là Bảo tàng Vasamuseet và Skansen, cả hai đều nằm trên đảo Djurgården.

Bảo tàng Vasamuseet trưng bày con tàu chiến Vasa từ thế kỷ 16 với hình dáng ngoạn mục. Tàu Vasa bị đắm ở cảng Stockholm năm 1628 và được trục vớt năm 1961. Sau nhiều năm bảo tồn cẩn thận và xây dựng lại các bộ phận của con tàu, Bảo tàng Vasamuseet ra đời. Không chỉ trưng bày tàu Vasa, bảo tàng còn cung cấp tư liệu về tất cả các khía cạnh của lịch sử con tàu, từ việc chạm khắc tỉ mỉ các bức tượng bằng tay đến quá trình đầy vất vả trục vớt tàu từ dưới đáy biển.

Bảo tàng Skansen là nơi lý tưởng với bất cứ ai muốn hiểu thêm về Thụy Điển nhưng chỉ ở thăm thủ đô. Bảo tàng ngoài trời này bao gồm hơn 150 tòa nhà tái hiện các thời kỳ và các vùng khác nhau khắp Thụy Điển
 
 
 
 
 
Nếu muốn trải nghiệm một Stockholm hiện đại, du khách hãy thử tận hưởng sự náo nhiệt ở khu Slussen, một tổ hợp đáng ngạc nhiên ở phía nam thị trấn cổ Gamla Stan và đi thăm đảo Södermalm. Từng là quận của tầng lớp người lao động, Södermalm đã được nâng cấp và hiện nay là nơi "sành điệu" nhất thị trấn.
 
 
Stockholm còn có hòn đảo Skeppsholmen và Kastellholmen, mỗi đảo này đều có các bảo tàng và phòng trưng bày. Långholmen, một hòn đảo nhỏ nối với phía tây quận Södermalm, có những bãi biển yên bình và phong cảnh cảng biển tuyệt đẹp. Kungsholmen - hòn đảo ở phía tây nhà ga trung tâm được "bao vây" bởi các quán bar, cà phê, nhà hàng. Đây là một địa chỉ thú vị cho những du khách thích tìm hiểu văn hóa.
 

Tổng cộng có khoảng 14 hòn đảo ở trung tâm thành phố Stockholm khiến biển trở thành một điểm đặc trưng tất yếu của đời sống thủ đô. Du khách có rất nhiều cơ hội để đi du lịch bằng thuyền với các chuyến đi ngắn như đi phà chở khách công cộng tới đảo Djurgården, hoặc chọn một trong nhiều tour ở trung tâm giao thông Nybroplan.

Stockholm – Thành phố cổ tích
 
Nếu thích các chuyến đi dài hơn, du khách có thể đi bằng phà công cộng đến những hòn đảo thuộc quần đảo rộng lớn của thành phố Stockholm. Người dân Stockholm nào cũng muốn có một mái nhà tranh ở đây. Gia đình hoàng gia cũng như nhiều văn nghệ sĩ trong đó có ban nhạc ABBA (tác giả của nhiều bài hát về đảo Viggsö), nhà văn - nhà viết kịch August Stringberg và thậm chí cả nhà báo - nhà văn Stieg Larsson, đều tìm thấy sự thư giãn, sảng khoái trong những điểm nghỉ dưỡng trên đảo. Quần đảo độc đáo này rộng đến nỗi có thể dễ dàng “thu nhận” tất cả mọi người và nơi đây vẫn có những khu rừng nguyên sinh và bãi biển vắng.
 
 
 
Stockholm mùa hè gặp gió cấp hai, cấp ba thì cả thành phố được nghe sóng hồ, sóng biển vỗ rì rào, nhè nhẹ như bản nhạc du dương đi vào giấc ngủ đêm của hai triệu người dân Stockholm cùng hàng vạn khách du lịch. Khách thập phương đều có một nhận định Stockholm là một thành phố du lịch độc đáo trên thế giới.
 

 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland (14-07-2010) 

(Thegioidep.info)
 
Hebrides là một quần đảo lớn ngoài khơi phía tây Scotland.
Nơi đây có cảnh quan tuyệt đẹp từ sự kết hợp hoàn hảo cùa sông, hồ, những ngọn núi, các ghềnh đá trên biển và đồng cỏ trải dài mênh mông.
Quần đảo rộng lớn này thường được bao bọc bởi sương mù càng làm cho cảnh đẹp trở nên hấp dẫn hơn. Mỗi năm, Hebrides thu hút rất nhiều nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, cũng như nhưng người đam mê khám phá, đến đây tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên hoang dại nơi đây.
Nổi bật là đỉnh núi bazan trên bán đảo Trotternish.
Những đỉnh núi này trồi lên mặt đất sau một vụ lở đất thời cổ xưa.
Trên những hòn đảo của Hebrides có khoảng 500 hòn đá, đa phần trông chúng đều cao lớn. Nổi tiếng nhất trong số đó là vòng tròn đá kỳ bí Stonehenge ở Callanish – được cho là ra đời trước cả kim tự tháp Ai Cập – tạo dựng từ 50 hòn đá 5.000 năm tuổi.
Trong hàng nghìn năm, con người đã cố gắng đấu tranh với thiên nhiên để có thể tồn tại được trên hòn đảo này. Đầu tiên là người Xen-tơ rồi đến người Viking, sau đó là những người Scotland và người Anh.
Và cuối cùng họ cũng đã chinh phục được hàng chục hòn đảo làm nơi trú ngụ.
Đảo Hebrides được công nhận là một khu bảo tồn thiên nhiên vào năm 2001 với nhiều loài động vật quý hiếm và khung cảnh nguyên sơ, huyền bí không phải nơi nào trên thế giới cũng có được.
 
Dưới đây là bộ ảnh tuyệt đẹp của nhiếp ảnh gia Jim Richardson về quang cảnh hoang sơ trên quần đảo Hebrides của Scotland.
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên
            tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên
            nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
Thiên nhiên tuyệt vời ở Scotland
 
(Thegioidep.info - Tổng hợp)

 
Heidelberg - vẻ đẹp của nước Đức (14-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Heidelberg là một thành phố lớn nằm cạnh sông Neckar ở Tây- Nam của nước Đức trong bang Baden-Württemberg.
Thành phố nổi tiếng thế giới vì có Lâu đài Heidelberg và khu phố cổ và trường Đại học Heidelberg lâu đời và là một trong những điểm đến trong nước Đức được du khách từ khắp nơi trên thế giới ưa thích nhất.
Heidelberg là thành phố lớn thứ năm của bang Baden-Württemberg, nằm trong vùng đô thị Tam giác Rhein Neckar.
Heidelberg là trụ sở của Hội đồng hành chính huyện Rhein-Neckar trong vùng Rhein-Neckar. Thành phố trực thuộc tỉnh Karlsruhe. Heidelberg thuộc về vùng đô thị Rhein-Neckar, là vùng đô thị bao gồm hai thành phố lớn Mannheim, Heidelberg, nhiều phần của phía nam bang Hessen và các thị trấn phía tây và phía nam của huyện Rhein-Neckar. Heidelberg là trung tâm của vùng Rhein-Neckar, bên cạnh Mannheim. Thành phố Heidelberg được chia thành 14 khu (Stadtteil) và 44 quận (Stadtbezirk).
Heidelberg nằm một phần trong vùng đồng bằng Thượng Rhein, phần lớn ở tả ngạn của hạ lưu sông Neckar, được bao bọc bởi hai ngọn núi là Königsstuhl (568 m) và Gaisberg (375 m).
Sông Neckar chảy qua Heidelberg từ đông sang tây. Ở tả ngạn sông Neckar là núi Heiligenberg (445 m).
Do Heidelberg nằm trong một trong những vùng ấm nhất của Đức nên một vài loại cây đặc biệt so với điều kiện của Trung Âu cũng tăng trưởng tại đây, thí dụ như cây hạnh, cây đa hay cây ôliu.
 

Ngoài ra sinh sống tự do trong Heidelberg là quần thể loài chim két xanh (Psittacula krameri) cũng như là một quần thể ngỗng thiên nga (Anser cygnoides) trên các đảo trên sông Neckar trước Bergheim và trên các bãi cỏ sọc theo sông Neckar. Loài ngỗng thiên nga này là là loài được xếp vào loài động vật đang bị đe dọa.
 

Khu phố lâu đời nhất của Heidelberg là khu phố cổ, nằm giữa bờ nam của sông Neckar và núi Königsstuhl.
Phần đông các thắng cảnh của Heidelberg như Lâu đài Heidelberg, đều nằm trong khu phố cổ. Ngoài khu phố cổ, nội thành Heidelberg bao gồm khu phố Heidelberg-Bergheim nằm về phía tây của khu phố cổ. Nguyên thủy làng Bergheim ngày xưa thật ra là còn lâu đời hơn cả khu phố cổ. Người ta đã tìm được nhiều di tích dân cư ngược dòng lịch sử cho đến thời gian đầu của Thời kỳ Đồ đá. Bergheim được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn kiện năm 769. Năm 1392 làng Bergheim bị giải tỏa, dân cư bị bắt buộc phải chuyển sang sinh sống trong thành phố Heidelberg đang phát triển nhanh chóng thời đấy.
Heidelberg thuộc vào trong số ít thành phố lớn của Đức có khu phố cổ theo phong cách kiến trúc Baroque vẫn còn tương đối nguyên vẹn như thời Trung cổ vì đã không bị dội bom trong Đệ nhị thế chiến. Phần lớn các thắng cảnh đều nằm trong khu phố cổ này với khu vực dành cho người đi bộ dài 1,6 km là một trong các khu vực dành cho người đi bộ dài nhất châu Âu.
 
Lâu đài Heidelberg
 
Visitors take in the 13th-century Heidelberg Castle
Lâu đài Heidelberg là tàn tích lâu đài nổi tiếng nhất của Đức. Lâu đài nằm khoảng 89 m trên thung lũng, ở sườn phía bắc của núi Königsstuhl. Ngày nay người ta chỉ biết rất ít về việc kiến tạo lâu đài này. Chỉ với tác phẩm Topographia Palatinatus Rheni của Matthäus Merian (1593-1650) mà trong đó tuyển hầu Ludwig V được nhắc đến như là người "đã bắt đầu xây một lâu đài mới trước đây cả trăm năm" người ta mới có một miêu tả lâu đài tương đối chính xác. Trong thế kỷ 17 lâu đài và thành phố Heidelberg đã bị chiếm lĩnh 3 lần và lần nào cũng bị phá hủy rồi lại được tái kiến thiết và mở rộng sau đấy (1622 trong Chiến tranh 30 năm, 1689 và lại bị quân đội Pháp phá hủy năm 1693 trong cuộc Chiến tranh kế thừa Pfalz). Năm 1764, khi thành phố Mannheim trở thành nơi ngự trị hiện đại của tuyển hầu vùng Kurpfalz, sét đánh và cơn hỏa hoạn sau đó đã kết thúc vĩnh viễn số phận của lâu đài vừa mới được tu sửa. Lâu đài đã bị bỏ phế, gạch đá được sử dụng để xây Lâu đài Schwetzingen. Tàn tích lâu đài đã trở thành biểu tượng cho tinh thần yêu nước chống lại sự đàn áp của Napoléon.
 
Sông Neckar
Heidelberg upon river Neckar (Germany)
 
Cầu Cũ
Tên chính thức của chiếc cầu bắc ngang sông Neckar này là Cầu Carl Theodor. Cầu thuộc vào trong số các chiếc cầu lâu đời nhất của Đức (được nhắc đến trong văn kiện lần đầu tiên năm 1248). Chiếc cầu đã bị quân đội Phát xít Đức giật sập vào cuối Đệ nhị thế chiến nhằm cản đường tiến quân của quân đội Đồng Minh. Ngay từ năm 1947 cầu đã được tái xây dựng lại hoàn toàn như cũ.
 
Cầu Carl Theodor
 
Karl-Theodore Brucke and Neckar River
 
Karl Theodor Bridge and Brueckentor in Heidelberg

Nhà thờ
Nhà thờ nổi tiếng nhất của Heidelberg là Heiliggeistkirche, ngay trong trung tâm phố cổ gần Lâu đài Heidelberg. Nhà thờ được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn kiện vào năm 1239. Năm 1398 nhà thờ bắt đầu được xây dựng theo phong cách kiến trúc Hậu Gothic vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Ngày xưa nhà thờ này là nơi bảo quản các văn kiện và tác phẩm chép tay cũng như là các phẩm in ấn đầu tiên của thư viện nổi tiếng Bibliotheca Palatina. Trong Chiến tranh Ba mươi năm năm bộ sưu tập này đã bị tuyển hầu Maximilian I chiếm đoạt làm quà tặng cho Giáo hoàng.
Peterskirche là nhà thờ lâu đời nhất của Heidelberg. Người ta phỏng đoán rằng Peterskirche đã được xây dựng trước khi thành lập Heidelberg, cách đây vào khoảng 900 năm. Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của khoảng 150 giáo sư của trường Đại học Heidelberg và người trong cung của các tuyển hầu. Cách không xa hai nhà thờ này là Nhà thờ Dòng Tên, biểu tượng cho phong trào chống Cải cách Kháng Cách và ngày xưa đã là tâm điểm của khu Dòng Tên. Nhà thờ Dòng Tên được khánh thành năm 1749
 
Nhà thờ
 

Căn nhà lâu đời nhất vẫn còn nguyên vẹn của Heidelberg là Khách sạn Hiệp sĩ ("Zum Ritter"), do một gia đình thương gia xây năm 1592. Đứng ngay trong khu phố cổ đối diện với nhà thờ Heiliggeistkirche, căn nhà này là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất của Heidelberg.
Ở rìa phía đông của khu phố cổ là Cổng Karl (Karlstor). Cổng vòm này nguyên là quà tặng của người dân Heidelberg cho tuyển hầu Karl Theodor (Pfalz). Việc xây dựng đã mất đến 6 năm, đến năm 1781 thì hoàn thành. Cổng Karl mang nhiều hình tượng trang trí, trong đó có biểu trưng của tuyển hầu cũng như là chân dung của tuyển hầu và vị hôn thê.
Trong khu phố cổ có nhiều tòa nhà mang tính lịch sử của trường Đại học Heidelberg. Nổi tiếng là Thư viện của trường. Ngôi nhà không những chỉ là thư viện của trường đại học mà còn có một Viện bảo tàng với nhiều tác phẩm viết tay và sách chép tay, trong đó nổi tiếng nhất là Codex Manesse, bộ chép tay đầy đủ nhất các bài ca của Đức thời Trung cổ.
 
Khách sạn Hiệp sĩ ("Zum Ritter")
 
Outdoor Restaurant in Heidelberg

Dinh Đại Công tước do kiến trúc sư Louis Remy de la Fosse xây năm 1717 tại Quảng trường Karl (Karlsplatz) và từ năm 1767 thuộc sở hữu của tuyển hầu Karl Theodor. Từ năm 1805 đây là dinh thự của các đại công tước vùng Baden. Từ năm 1909 tòa nhà này là trụ sở của Học viện Khoa học Heidelberg.
Nằm về phía bắc của Quảng trường Karl trong khu phố cổ là Dinh Boisserée, dinh thự của gia đình quý tộc von Sickingen. Dinh thự nổi tiếng là do 2 anh em Sulpiz và Melchior Boisserée đã lưu trữ bộ sưu tập tranh của họ tại đây trong khoảng thời gian từ 1810 đến 1819. Johann Wolfgang von Goethe đã thăm viếng dinh thự vào năm 1814 và 1815, sống nhiều tuần với 2 người anh em Boisserée. Qua đó, ngôi nhà đã trở thành một trung tâm chính trị và xã hội. Ngày nay dinh thự là cơ sở giảng dạy của khoa Đức Ngữ trường Đại học Heidelberg.
Thắng cảnh vùng lân cận
Đáng đến tham quan trong vùng lân cận Heidelberg trước nhất là các thành phố Speyer, Worms, Schwetzingen (đặc biệt là Lâu đài Schwetzingen, là lâu đài mùa hè của các tuyển hầu với công viên Anh rất đẹp), Ladenburg, Bruchsal (lâu đài theo phong cách kiến trúc Baroque), Mannheim với Tháp nước xây theo phong cách Tân Nghệ thuật và Viện bào tàng Kỹ thuật hiện đại), Wiesloch, Eberbach và Erbach. Tại Sinsheim là Viện Bảo tàng Ô tô và Viện Bảo tàng Kỹ thuật.
Có thể đi tàu theo ngược sông Neckar hướng về thành phố Heilbronn dọc theo thung lũng thơ mộng với nhiều lâu đài nhỏ khác. Vào ngày thứ Bảy thứ nhì của tháng 8 có thể đi tàu thủy đến thành phố Koblenz và ngược lại để xem Lễ hội pháo hoa Rhein in Flammen được tổ chức hằng năm tại Koblenz / Spay và nhiều địa điểm khác.
 
Lễ hội pháo hoa
 
 
(Thegioidep.info)

 
Đảo Pha lê - kim tự tháp xoắn ốc tại Nga (12-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Công trình tòa tháp cao ốc chọc trời mang tên “đảo pha-lê” (Crystal Island) ở Moscow (Nga) sẽ được xây dựng cách trung tâm thành phố gần 10 km, dự kiến hoàn thành vào năm 2014.
Tòa nhà “đảo pha-lê” là một trong những dự án xây dựng tham vọng nhất thế giới, do kiến trúc sư nổi tiếng thế giới người Anh từng đoạt giải Pritzker, Norman Foster thiết kế.
“Ðảo pha-lê” ước tính có chi phí xây dựng 4 tỷ USD, sẽ là một điểm đến mới và hấp dẫn của Moscow.
Với thiết kế giống một kim tự tháp xoắn ốc, “đảo pha- lê” cao khoảng 450 m, không phải cao nhất thế giới, nhưng có tổng diện tích 2,5 triệu m2.
Chân của tháp này có đường kính 701 m. Công trình này là một tổ hợp năng động gồm các hạng mục: 3.000 phòng khách sạn, 900 căn hộ sang trọng, nhà hát, rạp chiếu phim, văn phòng, bảo tàng, khu triển lãm, một ngôi trường quốc tế cho 500 học sinh và nhiều cửa hàng… Ðặc biệt có hai sân chiếu phim công cộng ở độ cao 150m và 300m.
Yếu tố bảo vệ môi trường trên “đảo pha-lê” được kiến trúc sư rất tập trung trong các thiết kế. Những bảng thu năng lượng mặt trời, cung cấp điện cho cả tòa nhà được gắn bên ngoài tòa tháp.
Thế hệ năng lượng thải ít khí các-bon-níc và tái sinh tại chỗ được áp dụng tại đây. Lớp “vỏ thông minh” của tòa tháp làm ánh sáng có thể chiếu vào bên trong nhằm giúp thông gió, mát vào mùa hè và giữ ấm vào mùa đông, hai thời điểm đáng chú ý ở Moscow.
 
Dự án Đảo Pha lê
 
 
 
“Ðảo pha-lê” là dự án lớn thứ hai của Norman Foster ở Moscow, sau công trình Tòa tháp thành phố Moscow (Moscow City Tower). Norman Foster cho biết: “”đảo pha lê” là một công trình thể hiện một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp 40 năm thiết kế của ông”.
Ông chính là một trong những kiến trúc sư hàng đầu thời đại, nổi danh với những tác phẩm kiến trúc độc đáo như tòa nhà quốc hội Ðức; tòa thị chính Luân Ðôn, Cầu treo thiên niên kỷ (Millennium Bridge) bắc qua sông Thêm (Anh); nhà ga hàng không lớn nhất và cũng tiên tiến nhất thế giới tại Bắc Kinh (Trung Quốc)…
 

(Thegioidep.info - Tổng hợp)


 
Provence - tím ngát những cánh đồng hoa oải hương (13-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Provence - là một vùng Đông Nam nước Pháp và giáp Địa Trung Hải đến Italy.
Provence là một phần của khu vực hành chính của Provence-Alpes-Côte d'Azur.
Người La Mã đã chinh phục nơi đây trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên,và đặt một cái tên mang tính sở hữu là  Provincia Nostra (có nghĩa là "tỉnh của chúng tôi"), hoặc chỉ gọi đơn giản  là Provincia ("tỉnh"), và theo tiếng Pháp đã được gọi là Provence.
Người ta đã tìm ra những di tích để chứng minh Provence có từ rất lâu đời và những họa tiết trang trí cổ như bò rừng bizon, chim cánh cụt, chữ viết tượng hình, ngựa và phác thảo bàn tay con người.
Provence còn nổi tiếng với các loại vang hồng. Một vùng sản xuất rượu rất lâu đời, ít nhất là 2600 năm khi người Hy lạp cổ đại tìm thấy thành phố cảng Marseille năm 600 trước công nguyên.
 Provence là sự pha trộn văn hóa hoàn hảo giữa người Hy Lạp cổ đại, người La Mã, người Gauls, người Catalans và Savoyards. Chính vì vậy các loại nho tại vùng này là những giống nho bản xứ từ Hy Lạp và La Mã, cũng như các loại nho gốc từ Tây Ban Nha, Italia và nho truyền thống của Pháp.
Từ thế kỷ trước Carignan là giống nho chính tại đây. Ngoài ra một số loại nho khác được ưa chuộng dùng để pha trộn như Braquet, Calitor, Folle và Tibouren cũng được trồng tại đây.
Tại Provence có ngôi làng Saint Rémy được bầu chọn là một trong những ngôi làng đẹp nhất nước Pháp. Ngôi làng này là đặc trưng của Provence nói riêng và miền Nam nước Pháp nói chung.
Provence thanh bình còn là nơi giữ chân họa sĩ tài hoa Van Gogh, ông đắm chìm trong ánh nắng và những cánh đồng hướng dương, những bông lúa mì thơm lựng và trong những bản nhạc đồng quê của những đàn ve sầu.
Khi bạn đến Provence du lịch, bạn có thể tìm đến những vùng thuộc Provence, hòa mình vào cuộc sống của nơi đây bằng cách đi chợ, chợ vải với những họa tiết xinh xắn như trái ôliu, hoa hướng dương, ve sầu, mướp đỏ. Màu sắc của những tấm vải đa dạng màu sắc vàng của hướng dương, đỏ hồng của mướp đỏ, tím của oải hương và xanh nõn của oliu.
Pháp là kinh đô của thời trang, và Pháp cũng là kinh đô của nước hoa, nên khi đến Provence, bạn còn có thể mua được những loại hương liệu cho xà phòng và nước hoa thiên nhiên. Loài hoa oải hương - lavande là loài hoa người dẫn Provence dùng làm nước xả vải, chăn mền, màn cửa sau khi giặt.
Vì thế, trong nhà thường có được mùi hương thiên nhiên. Xuất thân “bình dân”, giúp việc cho các bà nội trợ là thế, nhưng ngày nay hoa oải hương được dùng làm hương liệu sản xuất nước hoa, các loại dầu ướp trong tủ, các loại hương trong các sản phẩm gia dụng.
 
Hoa ỏai hương
 
 
 
Một hương thơm bình dân và kiểu dáng như một nhánh lúa trĩu hạt và màu tím mọc dày cánh đồng vùng Provence. Người ta tuốt hoa oải hương và bán từng vốc. Những vốc hoa này sẽ được cho vào túi nhỏ và ướp hương quần áo.
Các túi vải nho nhỏ bằng bàn tay chứa hoa oải hương là một món quà không thể thiếu khi mọi người tìm đến chợ. Mùi hương có thể lưu lại khá lâu, chừng vài ba tháng và có khả năng thu hút côn trùng nên dân Provence khuyên du khách chỉ nên bỏ túi hoa vào trong tủ đóng kín và đừng nên bày ra ở những chỗ trước gió như bậu cửa sổ, lan can, hành lang.
 
 
Đặc biệt, loại mướp tại Provence luôn là tâm điểm của du khách, chúng có kiểu dáng rất ngộ nghĩnh dùng làm trang trí rất ấn tượng
 Có trái mập mạp và cổ uốn cong lên trông chẳng khác gì một con thiên nga màu vàng rực, đỏ thắm hoặc trắng hồng.
Có trái tròn dẹp và phồng cao như trái bí rợ nhưng “phốp pháp” hơn.
Có trái hình bầu dục, có trái hình ống, có trái hình tim. Mướp Provence khi ăn có mùi vị thơm ngon, giông giống bí rợ lẫn với mướp hoặc với cà tím. Người ta thường nấu súp, xay nát và nêm một chút muối không cần tới thịt, và hương liệu khác cũng cho một vị ngon từ tự nhiên

Tuy nhiên không phải loại mướp nào cũng để ăn vì nhiều khi người Provence chỉ mua về để trang trí. Họ chất các loại mướp hình dạng và màu sắc khác nhau vào một rổ mây, đặt lên bàn khách hoặc trong phòng bếp. Bức tranh phồn thịnh và thanh bình đã hiện ra vô cùng thuyết phục.
 
Market, Place Richelme, Aix-En-Provence, Provence, France

 France, Var, Verdon Regional Natural Park, Plateau de Valensole, lavander field and sunflowers


Nếu như hoa oải hương chỉ được bày bán trong khu chợ hương liệu, hoa hướng dương là tâm điểm cho sự hãnh diện của người Provence. Hoa hướng dương được trồng cả cánh đồng để lấy hạt, ép dầu và cả xuất khẩu hoa sang các nước Bắc Âu giá lạnh. Hướng dương ở đây vàng rực rỡ, to tròn và tươi thắm.
Trong truyền thuyết Hy Lạp - La Mã cổ đại, nữ thần Clytie say mê thần mặt trời Apollon nhưng không được ông để mắt tới. Vì nữ thần cứ mãi đứng ngước nhìn mặt trời (tức Apollon) quá lâu, chân bà biến thành rễ quấn chặt vào lòng đất và khuôn mặt kiều diễm của bà trở thành một bông hoa.
Tại làng Saint Rémy của Provence có một điều vô cùng đặc biệt, đó là ve sầu
Mùa hè ve ca hát nỉ non thâu đêm suốt sáng không bao giờ dừng. Các đoàn làm phim đến đây quay phải thu âm trong phòng vì thu tiếng trực tiếp luôn vướng giọng ca của ve. Chợ Saint Rémy bán những con ve sầu bằng sứ màu vàng, to gấp… mấy ngàn lần con ve thật, dùng để treo trên tường, trang trí trong vườn hoặc làm chậu hoa dây leo. Ve còn được thể hiện qua các loại trang sức, mặt dây chuyền, nút cài áo… tha hồ cho khách chọn.
Vùng Provence nói chung và làng Saint Rémy nói riêng còn là một trong những lãnh thổ lưu dấu La Mã khá nhiều. Trước ngõ vào làng còn đó Khải Hoàn Môn và Cột Chiến Thắng sừng sững qua mấy ngàn năm lịch sử. Kiến trúc của những ngôi giáo đường, các ngôi nhà nhỏ, các bồn phun nước vẫn mang đậm phong cách thời Trung Cổ và Phục Hưng. Bảo tàng lịch sử vùng Provence cũng là nơi nên đến nếu du khách muốn khám phá hết vẻ kỳ thú của xứ sở tràn ngập ánh mặt trời.
Ngoài ra, tại đây còn có các galerie nghệ thuật với các loại tranh phong cảnh, tượng các nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, đồ gốm nung…
 
Những bức ảnh thiên nhiên tại Provence
 
 
 
 
 
Lavender at Banon
 
Lavander and bee Traditional architecture in Roussillon, Provence, France
 
Cultivated sunflowers (Helianthus annuus) arable crop, near Valensole, Provence, France, EuropeBalcony in Sault, Provence, France
 
 
Lilac and lavender plants in a Dorset garden
 
France, Alpes de Haute Provence, Saint Etienne les Orgues (Aerial View)
 
(Thegioidep.info - Tổng hợp)
 
 

 
Quảng trường Thánh Mark - Quảng trường nổi tiếng của Venice (09-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Quảng trường Thánh Mark (tiếng Ý: Piazza San Marco) là quảng trường quan trọng nhất và nổi tiếng nhất của thành phố Venice.
Quảng trường dài 175 m, rộng 82 m và cùng với Piazzale Roma và Piazza di Rialto là ba quảng trường duy nhất trong thành phố được gọi là piazza.
Các quảng trường khác của Venice được gọi một cách khiêm nhường hơn: campi.
Alfred de Musset đã từng gọi quảng trường này là "salon của châu Âu". Vì không cao hơn mực nước biển là bao nhiêu nên quảng trường rất hay bị ngập lụt mỗi khi có bão cuốn theo nước ập vào từ mặt nhìn ra Kênh Lớn (Canal Grande) là khoảng không gian trống.
Quảng trường, cũng như toàn bộ thành phố Venice, là khu vực dành riêng cho người đi bộ. "Đại sảnh lễ hội đẹp nhất châu Âu" này, như Napoléon đã từng gọi, bao giờ cũng tràn ngập du khách, nhiếp ảnh gia và chim bồ câu.
Trong thế kỷ thứ 9 quảng trường xuất phát từ một diện tích trống trước ngôi Nhà thờ Thánh Mark vẫn còn khiêm nhường. Đây là nơi công bố và tiến hành nghi thức của hội đồng thành phố cũng như là nơi tổ chức lễ hội của thành phố như lễ hội hóa trang.
Quảng trường Thánh Mark ngày nay là kết quả của nhiều đợt xây dựng kiến tạo cách xa nhau về thời gian, chủ yếu giữa 1200 và 1600.
Công trình đầu tiên là việc xây dựng ngôi nhà thờ cho hài cốt của Thánh Mark năm 829, dưới thời tổng trấn (doge) thứ 11 và 12. Theo truyền thuyết kể lại, hài cốt của vị thánh được đánh cắp từ thành phố Alexandria (Ai Cập) về đến Venice. Ngôi nhà thờ được xây dựng kế cạnh dinh tổng trấn thành phố. Năm 976 dinh, ngôi nhà thờ và tròn 300 căn nhà đã bị hỏa họan đốt cháy hoàn toàn. Nhân dịp này vị tổng trấn Pietro I Orseolo (928 – 987) đã cho tái tạo lại khu đất.
 
Quảng trường Thánh Mark trong tranh

 
 
 
The Italian flag flies in front of the Basilica San Marco

Quảng trường Thánh Mark bắt đầu có kích thước như ngày nay khi nhánh sông của Rio Batario và bến cảng giữa quảng trường và Dinh Tổng trấn được đổ đất lấp đi. Giữa 1172 và 1178 tổng trấn Sebastiano Ziani cho mở rộng quảng trường này, và đến năm 1177 khi Hoàng đế Thánh chế La Mã Friedrich I đến viếng thăm thì đây đã là trung tâm tiêu biểu cho thành phố cộng hòa Venice. Từ năm 1723 quảng trường được lát bằng đá trachyte, có hoa văn hình học màu sáng trên nền sẫm màu hơn, tạo cảm giác cho thấy quảng trường dài hơn
 
Man in Carnival costume holding book
 
Tháp chuông và Nhà thờ Thánh Mark
Bắt đầu từ Canal Grande, ngược chiều kim đồng hồ là Dinh Tổng trấn (Venezia), Porta della Carta (cổng đi vào Dinh tổng trấn), tháp đồng hồ (Torre dell'Orologio), dinh Procuratie Vecchie, cánh nhà Napoléon của Procuratie, dinh Procuratie Nouve, tháp chuông và Biblioteca Marciana, một trong các thư viện lớn nhất của Ý.
Porta della Carta là cổng vào Dinh Tổng trấn, còn được gọi là Cổng Vàng (porta aurea) do được mạ rất nhiều vàng, được xây giữa 1438 và 1442 dưới sự lãnh đạo của Giovanni và Bartolomeo. Bức tượng do Francesco Foscari cho xây được đặt bên cạnh cổng, miêu tả vị tổng trấn đang quỳ trước con sư tử có cánh là biểu tượng của Thánh Mark cũng như của thành phố Venice.

Dawn at Piazza San Marco


Toore dell'Orologio là một tháp đồng hồ do Mauro Codussi kiến tạo trong khoảng 1496-1499, tầng thứ ba do kiến trúc sư Giorgio Massari xây thêm năm 1755. Đây là một đồng hồ thiên văn học mô tả các chu kỳ mặt trăng, mặt trời và hoàng đạo. Hai tượng đồng khổng lồ gõ vào chuông đồng mỗi đầu giờ.
Piazza San Marco and Bell Tower
 
Các dinh thự Procuratie bao bọc phía bắc, nam và đông của quảng trường nguyên là các dãy nhà công sở hành chính của cộng hòa Venice. Dinh Procuratie Vecchie được xây dựng từ năm 1514 dưới sự lãnh đạo của Bartolomeo Buon. Dinh Procuratie Nouve được xây từ năm 1583 do Vincenzo Scamozzi lãnh đạo, và từ 1616 đến 1640 là Baldassare Longgena. Dinh này thay thế cho một dinh cũ đã bị hỏa hoạn đốt cháy. Bắt đầu từ thời điểm này, quảng trường có dạng hình thang thay vì là hình chữ nhật như trước đó. Cánh nhà nối kết – ala napoleonica – là một công trình xây dựng của thế kỷ 19. Người Pháp lúc đó đang chiếm giữ Venice đã ra lệnh giật sập Nhà thờ Thánh Gemigniano để tạo chỗ trống cho một kiến trúc mới phù hợp với hai dinh Procuratie. Trong tầng trệt là cửa hàng và quán cà phê, trong đó có hai quán cà phê nổi tiếng nhất Venice là Gran Caffe Quadri và Caffe Florian, khai trương trong năm 1683, là quán cà phê lâu đời nhất châu Âu. Trong các dinh thự Procuratie là Viện Bảo tàng Correr và Viện Bảo tàng Khảo cổ Venice.
St. Mark's Square in the Rainy Season
 
Tháp chuông trên Quảng trường Thánh Mark được xây trên nền của một công trình xây dựng cũ và được hoàn tất trong thế kỷ 12. Tháp này là dấu hiệu đất liền cho người đi biển, về đêm có thể đốt lửa như một ngọn hải đăng. Trong lịch sử tháp đã nhiều lần bị hư hại do động đất hay hỏa hoạn. Năm 1902 tháp được xây dựng lại như cũ sau khi đổ sập xuống.
Loggetta nằm cạnh tháp đồng hồ do Sansovino kiến tạo giữa 1537 và 1540, là hội trường của giới quý tộc thành phố. Hình nổi và tượng của công trình xây dựng này ca ngợi các đức tính của Cộng hòa Venice - tài năng trong chiến tranh và thương mại, hòa thuận trong chính trị, tài hùng biện – mô tả lòng yêu hòa bình và đặc biệt là sự bảo hộ của tông đồ Mark.
Phần giữa Dinh Tổng trấn, Biblioteca Marciana (Thư viện Thánh Mark) và phá được gọi là Piazzetta die Leoncini, có hai cột cao mang hình tượng của Thánh Mark và Thánh Torado. Biblioteca Marciana hay Thư viện thánh Mark kết nối Piazzetta với Quảng trường Thánh Mark.
 
(T.G.Đ - Tổng hợp)

 
Cung điện Drottningholm - Thụy Điển (06-07-2010) 

(Thegioidep.info)
Cung điện Drottningholm là nơi ở của gia đình hoàng gia Thụy Điển. Cung điện nằm tại vùng Drottningholm.
Nó được xây dựng trên đảo Lovön (thuộc Stockholm), và là một trong những cung điện Hoàng gia Thụy Điển.
Ban đầu nó được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 và là nơi cư trú của hoàng gia Thụy Điển.
Không chỉ là nhà riêng của gia đình Hoàng gia Thụy Điển, cung điện còn là một địa điểm thu hút khách du lịch.
Tên bắt nguồn của Drottningholm có nghĩa đen là Đảo của Nữ hoàng.
Ban đầu tòa nhà được thiết kế theo phong cách Phục Hưng bởi Willerm Boy, cung điện bằng đá này được xây dựng bởi John III  (Vua của Thụy Điển) xây tặng cho Nữ hoàng của mình là Catherine Jagellon trong năm 1580.
Cung điện này được xây dựng trước lâu đài của Hoàng gia là Torvesund.
Nữ hoàng giàu có Hedwig Eleonora mua lại cung điện trong năm 1661, một năm sau khi bà kết thúc vai trò Nữ hoàng của Thụy Điển.
(Hedwig Eleonora sinh ngày 23/10/1636 và mất ngày 24/11/1715 - bà là hoàng hậu vợ vua Charles X và mẹ của vua Charles XI. Bà giữ vị trí nhiếp chính ở Thụy Điển 3 lần và là Đệ nhất Phu nhân trong vòng 61 năm, từ năm 1654 tới khi qua đời). Nhưng sau đó nó bị cháy, ngày 30/12 cùng năm, Hedwig thuê kiến trúc sư nổi tiếng người Thụy Điển Nicodemus Tessin the Elder thiết kế và xây dựng lại cung điện này.
Trong năm 1662, bắt đầu công việc tái thiết tòa nhà. Và cung điện này gần như hòan thành thì Nicodemus đã chết trong năm 1681. Con trai của Nicodemus Tessin the Elder tiếp tục công việc này và hoàn thành thiết kế nội thất xây dựng.
 
 
Từ năm 1660 đến năm 1672, Thụy Điển phát triển thành một đất nước lớn mạnh sau Hòa ước Westphalia.Với vị trí và vai trò của Vua và Hoàng hậu, cần một nơi cư trú thuận tiện gần Stockholm.
Trong suốt triều đại của vua Charles XI và Charles XII, Drottningholm là nơi ở chính và đồng thời các cuộc gặp mặt, họp bàn của Hoàng gia thường có mặt tại cung điện này.
Sau cái chết của nữ hoàng Hedvig Eleonora năm 1715. Nữ hoàng kế tiếp là Ulrika Eleonora và vua Frederick I đã đến và ở tại cung điện cho đến năm 1744.
Cung điện đã trở thành một món quà tặng cho công chúa, sau này là  Nữ hoàng của Thụy Điển, Louisa Ulrika của nước Phổ trong năm 1744 khi cô kết hôn với Adolf Frederick của Thụy Điển, người đã trở thành vua của Thụy Điển năm 1751.
 
Công chúa Madeleine của Thụy Điển
 

Trong thời gian sở hữu của Louisa Drottningholm nội thất của cung điện được thay đổi theo phong cách rococo phức tạp của Pháp.
Louisa cũng chịu trách nhiệm chuyển Nội thất Nhà hát của Cung điện Drottningholm xây dựng lại lớn hơn sau khi nhà hát được xây dựng lúc ban đầu nhỏ hơn và bị đốt cháy trong năm 1762.
Louisa Ulrika và vợ chồng bà tiếp tục cư trú tại cung điện của họ (1751-1771).
Trong năm 1777, Louisa bán lại cung điện Drottningholm cho nhà nước Thụy Điển.
 
 
Sau khi thuộc sở hữu của nhà nước Thụy Điển, vua Gustav III((trị vì 1792-1809) - con trai của Louisa đã sống trong cung điện này với vương triều của ông. Tại đây là nơi ở mùa hè, các nghi lễ của Hoàng gia được thực hiện.
Từ năm 1809-1818 là khoảng thời gian trị vì của Charles XIII.
Đến thế kỷ 19, các cung điện đã bắt đầu bị lãng quên và bắt đầu phân rã.
Trong suốt triều đại của John Charles XIV của Thụy Điển (trị vì 1818-1844), cung điện đã bị bỏ.
Nhà vua coi nó như một biểu tượng của triều đại cũ, và Drottningholm được trái để phân rã.
Các tòa nhà đã bị hỏng nặng bởi các tác động của thiên nhiên, những đồ đạc trong cung điện và hàng tồn kho của họ đã được bị lấy đi hoặc bán đấu giá.
 
 
Cung điện Drottningholm được mở cửa cho công chúng lần đầu tiên trong thời kỳ này: một tour du lịch đã đến đây thăm quan năm 1819, và sử dụng công viên cho những buổi dã ngoại.
Thỉnh thoảng, được sử dụng cho các sự kiện công cộng, hay đón tiếp khách nước ngoài là những vị vua, công nương các nước khác.
 một số thay đổi trong thời gian trị vì của Oscar I của Thụy Điển.
Oscar I đã có một vài thay đổi tác động để ngăn ngừa việc cung điện bị phá hủy bằng cách cho tu sửa lần đầu tiên vào năm 1846.
 
 
Các lễ kỷ niệm được tổ chức ở đây, như đón tiếp đòan sinh viên Pan-Scandinavian năm 1856, và năm 1858, vị vua tương lai Gustav V của Thụy Điển cũng được sinh tại cung điện này.
Charles XV của Thụy Điển đã không quan tâm đến nó và không sử dụng nó, nhưng vua Oscar II của Thụy Điển tiếp tục công việc lưu giữ và bảo tồn cung điện.
Cả hai vua Oscar I và Oscar II bị chỉ trích vì hiện đại hoá các cung điện và điều chỉnh nó theo thời trang và hiện đại hóa cung điện hơn là khôi phục nó về trạng thái ban đầu.
Năm 1907, cung điện được bắt đầu khôi phục lại theo tình trạng trước đây của nó, sau đó triều đình bắt đầu sử dụng nó thường xuyên
 
 
Hiện nay gia đình hoàng gia Thụy Điển đã sử dụng Drottningholm là nơi ở chính của họ kể từ năm 1981.
Kể từ đó, cung điện cũng đã được bảo vệ bởi quân đội Thụy Điển.
Qua hơn 400 năm, cung điện Drottningholm có nhiều sự thay đổi và chứng kiến những thăng trầm lịch sử của những vị vua và hoàng hậu nắm giữ triều đại của mình.
Đến thế kỷ 19, có những đổi mới lớn như điện, lò sưởi, các lối thóat nước thải, các nguồn nước đưa vào và các phần mái được thay thế. Khoảng năm 1977, một số khu vực chính của cung điện đã được khôi phục và xây dựng lại. Các thư viện quốc gia được đặt tại đây, và để an tòan đã có thêm phòng chữa cháy tại cung điện này.
Năm 1997, bên ngòai cung điện, các bức tường được làm lại và đến năm 2002 thì hòan thành.
 
Nhà thờ thuộc cung điện
Nhà thờ được thiết kế và xây dựng bởi Nicodemus Tessin the Elder. Nó được hoàn thành bởi con trai ông Tháng Năm, 1746.
Nhà hát cung điện
Là nhà hát opera đặt tại cung điện, và Hoàng gia Thụy Điển cho phép sử dụng trong các mùa lễ hội
Các khu vườn:
Theo phong cách kiến trúc baroque, khu vườn được tạo ra cuối thế kỷ 17, theo chỉ đạo của nữ hoàng Hedwig Eleonora.
Hai cha và con Tessin đã thực hiện dự án đã tạo ra một khu vườn bên phải theo phong cách baroque bên ngoài cung điện chính, hai bên đường cây dày.
Các pho tượng rải rác khắp khu vực này đã được tạo ra bởi các nghệ sĩ Adrian de Vries.
Các vườn theo phong cách baroque đã bị quên lãng cùng với phần còn lại của căn cứ trong thế kỷ 19, nhưng đã được khôi phục trong thập niên 1950 và 1960 theo sáng kiến của vua Adolf VI Gustaf.
Vườn nước Anh
Vua Gustav III của Thụy Điển đã có sáng kiến gọi là phần vườn nước Anh của cung điện Drottningholm.
Khu vườn này nằm ở phía bắc của khu vườn baroque và bao gồm hai ao với kênh mương, cầu cống, những khuôn viên mở rộng của cây cỏ. Trong khu vườn này có những đường đi bộ, các quần thể thu hút mắt nhìn và các bức tượng bằng đá cẩm thạch cổ xưa được mua bởi vua Gustav III từ Italy. 
Di sản thế giới UNESCO
Cung điện Drottningholm đã trở thành một di sản thế giới Unesco và được thêm vào danh sách năm 1991.
(T.G.Đ - lược dịch)

 
trước  1, 2, 3 ... , 18, 19, 20  Sau

Tin đã đăng

Lâu đài Versailles (03-07-2010)
Burghley House - một lâu đài của nước Anh (01-07-2010)
Di lịch Paris (01-07-2010)
Khám phá bãi biển đẹp nhất Hy Lạp (27-06-2010)
Những bức tượng khổng lồ dưới đáy biển (23-06-2010)
Các sao sẽ đi đâu và kỳ nghỉ hè này??? (22-06-2010)
Những khách sạn độc đáo (22-06-2010)
Thăm Babylon tráng lệ huy hoàng (22-06-2010)
 
VIDEO