thegioidep.info
Home
 
Đăng ký | Đăng nhập | Quên mật khẩu
   
 
 
 
Về miền hoa lệ xuân nở thắm (tiếp theo) (11-06-2011) 

HÀM CHÂU
Cuộc sống đô thị thì ở châu Âu hay châu Á cũng chẳng khác nhau là mấy. Nhưng nông thôn thì khác! Vậy nên tôi muốn kể về miền quê nước Pháp…
Bao đồng cỏ ngàn xưa đẫm máu
Dòng họ Feintrenie khởi nghiệp nuôi ong mật và chế biến các loại sản phẩm từ ong qua bốn đời rồi.
Cụ nội của Michel tử trận tại chiến trường Verdun trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, được khắc tên trên tấm bia liệt sĩ dựng trước cửa nhà thờ Chézelles bên cạnh trụ sở chính quyền xã.
Người ông từng bí mật ủng hộ tiền bạc và mật ong cho các chiến sĩ du kích chống phát-xít Hitler. Các anh chị du kích Pháp thời ấy xây dựng khu căn cứ tại những cánh rừng rậm rạp cây bụi, nhiều đầm lầy, gọi là maquis, giống như vùng “bưng biền” ở Nam Bộ nước ta. Trong tiếng Pháp có cụm từ prendre le maquis, nghĩa là “ra bưng biền đánh du kích”.
 
 
Nữ văn sĩ Madeleine Riffaud, năm 18 tuổi, đã tham gia du kích ở maquis. Chị bị  p Từ trái sang phải: Chế Lan Viên, Tú Mỡ, Madeleine Riffaud và Nguyễn Đình Thi.
 hát-xít Đức bắt, kết án tử hình. Trước ngày bị đem ra xử bắn, chị may mắn được tự do vì có cuộc trao đổi tù binh giữa quân du kích và quân chiếm đóng. Mối tình chị dành cho Nguyễn Đình Thi, nghệ sĩ trẻ Việt Nam đã sáng tác những ca khúc Diệt phát-xít, Người Hà Nội, là mối tình Việt - Pháp tuyệt đẹp dù quá nhiều biệt ly, dang dở…
Hai chúng ta như hai ngôi sao
Hai đầu chân trời lấp lánh
Trong không gian mênh mông xa nhau
Chiều chiều cùng sánh lên ánh sáng
Đem lòng hy vọng xóa thương đau…
Nguyễn Đình Thi đã viết về mối tình ấy trong “những đêm dài hành quân nung nấu/ bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” trên những nẻo đường chiến dịch ở Việt Bắc, Tây Bắc.
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người.
Mấy câu thơ ấy trong bài Nhớ được anh chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Đình Thi, 30 tuổi, viết tặng M. (tức tặng Madeleine) khi hành quân qua đèo Phạ Đin lên chiến trường Điện Biên Phủ, dừng lại trên đỉnh đèo, đốt cành cây khô để sưởi.
Thời đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Nam Bộ, ta cũng đã in một tờ báo địch vận mang tên tiếng Pháp L’Appel du Maquis (Tiếng gọi Bưng biền), do Giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm chủ bút, để đưa vào phát hành trong vùng Sài Gòn - Gia Định lúc bấy giờ bị địch tạm chiếm.
Bên tách cà-phê sữa Nestlé, tôi kể với anh chị Feintrenie rằng, năm 19 tuổi, khi còn là một cậu sinh viên đại học trẻ măng, tôi đã mê mải đọc trong nguyên văn tiếng Pháp cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Pháp tham gia kháng chiến chống Đức nhan đề Nous reviendrons cueillir les jonquilles (Ta sẽ về hái hoa trường thọ). Tác giả tin chắc cuộc chiến đấu của du kích Pháp nhất định sẽ thắng, ông sẽ trở về quê  hái những đoá hoa trường thọ mọc dại giữa cánh đồng làng. Nhưng, lâu quá rồi, tôi không còn nhớ tác giả tên là gì nữa! Và, quả thật dạo đó, tôi cũng chẳng biết hoa trường thọ (jonquille) là loại hoa gì, hình thù ra sao, chỉ biết cuốn Pháp-Việt từ điển của cụ Đào Duy Anh dịch như thế! Mãi gần đây, sang Pháp tôi mới rõ đó chính là một loài thuỷ tiên hoa vàng.
- Bọn tôi “sinh sau đẻ muộn” - Michel Feintrenie nói - văn học thời kháng chiến  chống phát-xít chẳng đọc mấy! Chỉ được học một số bài thơ trong sách giáo khoa.
Tôi cho Michel biết, tôi rất thích thơ Louis Aragon và Paul Éluard. Nhiều bài đã được dịch ra tiếng Việt. Đặc biệt, bài Hành khúc của Aragon được Tố Hữu dịch rất hay. Đó là những năm:
Giặc Xanh đến với lũ diều hâu
Che kín mặt trời, đen mặt đất…
Nước Pháp bị phát-xít Đức (“giặc Xanh”) chiếm đóng:
 Giữa hồi phản phúc
Tối đen tù ngục
Suối đã đục dòng
Chỉ lệ còn trong...
“Suối đã đục dòng/ Chỉ lệ còn trong”, câu thơ hay quá! Chỉ những ai từng nếm trải nỗi đau tột cùng, mới viết ra được câu thơ như thế! Nghề “viết lách” tưởng chừng dễ như bỡn, nhưng mà khó lắm thay! Có khi suốt đời bận tối mắt tối mũi, mà vẫn chẳng thành tài!

 
Thi hào Pháp Louis Aragon.
 
Mới vào nghề, công việc suôn sẻ, thu nhập tăng nhanh, ta dễ tưởng nhầm ta viết giỏi! Nhưng rồi, 10 năm, 20 năm sau, quay đầu nhìn lại, bỗng thấy… trắng tay! Ta đã để lại cho đời một ý tưởng nào thật độc đáo, của riêng ta, một áng văn nào thật hay, thật sáng tạo, của riêng ta chưa? Ngay từ đầu, ta đã lạc đường rồi chăng? Ta đã dễ dãi mải mê làm một “cây bút ký sinh” rồi chăng? Ta quen sống nhờ vào ý tưởng của người khác, văn chương của người khác, như cây tầm gửi quen sống gửi vào thân cây chủ? Nỗi đau chính là ở chỗ đến khi “ngộ” ra thì đà quá muộn! Từ một “cây bút ký sinh” giờ muốn biến thành một cây bút có tư duy độc lập, có phong cách riêng, là một sự “lột xác” đau đớn, lắm khi không làm nổi! Tới lúc ấy, mới thất vọng thốt lên:  “Cuộc đời tôi - một đời trôi lỡ làng!”…
 
Thơ Aragon là lời tâm tình thống thiết, của riêng ông. Ông viết “theo mệnh lệnh của  trái tim mình” nhưng trái tim ấy thuộc về dân tộc Pháp:

Phải giành lại từ tay gian ác
Từng trái đồi, ngọn núi, vườn hoa!
Phải giành lại từ tay quân giặc
Từng cửa nhà, mồ mả ông cha!
Bao đồng cỏ ngàn xưa đẫm máu
Và cả trời hiền hậu bao la...
 - Aragon tả cảnh đồng quê nước Pháp - tôi nói - chắc anh chị cũng thấy, cứ y như là tả cảnh vùng Chézelles này vậy! Cũng “trái đồi, ngọn núi, vườn hoa”; cũng “cửa nhà, mồ mả ông cha”; cũng “bao đồng cỏ ngàn xưa đẫm máu/ và cả trời hiền hậu bao la” y như ở vùng quê anh chị đây.
- Đúng! Đúng quá! “Ngàn xưa đẫm máu”! Quân La Mã đã từng chiếm đóng vùng này từ đầu Công nguyên, tàn sát nhiều người dân Pháp! - Michel nói.
Chézelles là một vùng đất cổ, thế mà cho đến nay, vẫn còn lưu giữ dấu vết con đường hành quân của kỵ binh La Mã thời Julius Caesar chinh phục xứ Gaule.
 Sau giờ làm việc, Michel tha thẩn cùng tôi dạo bước, vào một buổi chiều sương bay, trên vài ba đoạn đường của kỵ binh La Mã xưa còn sót lại. Phần lớn con đường ấy, nay đã mất hút trong cánh đồng hướng dương, cải dầu. Anh chỉ cho tôi một cái cống xây từ thời Caesar, giờ sập đổ một phần.

 
 
Đường làng một chiều sương bay.
 
Lúc trở về nhà, anh đưa ra “khoe” với tôi một số đồng tiền La Mã thời Tétricus, Hélène, Valentine hồi thế kỷ thứ III, thứ IV sau Công nguyên, cũng như chiếc nhẫn, cái vòng đeo tay, mảnh ngói, chiếc bình vỡ... được trang trí bằng những họa tiết La Mã, khi họ thống trị xứ Gaule. Anh tình cờ “khai quật” được mấy thứ quý hiếm đó trong lúc đào móng xây ga-ra ô-tô. Sau khi giám định, hai vị tiến sĩ khảo cổ học là Allain và Albert đã xác định niên đại, rồi chuyển hầu hết số cố vật kia về bảo tàng địa phương, chỉ dành tặng gia đình một phần nhỏ để ghi công, theo luật pháp xứ này.
Chuyện cũ đã nghìn năm.
 
Bà cụ ngoại bát tuần vẫn… “phong độ” lắm

Cách nhà vợ chồng Michel vài trăm mét, là ngôi nhà bà Jeannette, mẹ của Michel. Sinh năm 1928, đúng 83 “tuổi Tây”, thế mà bà vẫn… “phong độ” lắm! Bà sống một mình trong ngôi nhà trệt mới xây - do ngại lên xuống thang gác - gồm sáu phòng. Cần tới sáu phòng vì thỉnh thoàng bà cần đón con, cháu từ Paris về chơi! Thửa vườn rộng bằng vườn nhà Michel, tức là… 5.000 mét vuông!
 
- Trực thăng hạ cánh ngay trong vườn nhà bà?

- Vâng, có sao đâu? Vườn đủ rộng, lại không vướng cây to!
 
Ngồi trên chiếc ghế bành kiểu Louis 14, trong gian phòng khách lắp kính sáng choang, có thể nhìn ra cánh đồng bao la hoa lệ xuân đỏ thắm, hoa cải dầu, hướng dương vàng tươi chạy tít tắp tới tận chân mây trắng ửng hồng nắng quái chiều hôm. Con ong nhà Michel hút mật từ cánh đồng hoa lệ xuân, cải dầu, hướng dương ấy đấy.

- Tôi không cho xây tường - bà nói - chỉ lắp kính thôi, để trong nhà thu được càng nhiều ánh sáng trời càng tốt.
 
Bà Jeannette mở máy tính giới thiệu với các bạn trẻ Việt Nam những bức ảnh gia đình.
 
Nơi góc phòng, đặt một chiếc PC, màn hình tinh thể lỏng, 21 inch, cài hệ điều hành Windows 7 professional.

- Bà vẫn dùng máy tính?
- Mỗi ngày tôi check mail hai lần, để đọc thư bạn bè, con cháu, và trả lời đừng chậm quá.
- Chắc vợ chồng Michel chỉ vẽ cho bà cách dùng máy tính?
- Đâu có! Tôi muốn học từ từ, bài bản. Thế nhưng, Michel lại cứ sốt ruột, dạy vội dạy vàng! Cho nên tôi quyết định theo học ở một lớp IT ngoài thành phố, mỗi tuần học ba buổi, suốt bốn tháng.
- Vất vả quá!
- Có gì đâu! Chỉ 20 ki-lô-mét từ đây ra Châteauroux, mất 12 phút lái ô-tô.
- Bà tự lái?
- Dĩ nhiên! Nếu ông muốn đi thăm thái ấp của bà George Sand thì, sáng mai, tôi lái xe đưa ông đi.

 
Bên chiếc cối xay nước, nơi George Sand thường "trốn khách" ra đây ngồi viết.
 
Đúng hẹn, bà đánh chiếc Peugeot sang nhà Michel, đón tôi đi. Chúng tôi thăm chỗ ở của George Sand (1804-1876) tại Nohant. Rồi thăm chiếc cối xay nước bên dòng suối Angibault, một nơi vắng vẻ mà G. Sand thường “trốn khách” đến đấy ngồi viết sách. Tại căn phòng trên tầng gác của chiếc cối xay nước, nơi G. Sand hay ngồi viết, có treo tranh chân dung những người tình của bà. Tôi đếm được cả thảy… 10 người! Và để có chứng cứ, tôi chụp ảnh luôn từng người một! Trong số 10 người ấy, có 3 người rất nổi tiếng: nghệ sĩ pi-a-nô Ba Lan thiên tài F. Chopin; nhà thơ Pháp A. de Musset; và hoạ sĩ Pháp E. Delacroix. Sau cuộc “cách mạng tình dục” ở phương Tây vào thập niên 60 thế kỷ trước, không ít phụ nữ Âu, Mỹ cho rằng G. Sand là người… “đi trước thời đại”, “dám vùng lên bẻ gãy xiềng gông dư luận, dũng cảm tự giải phóng mình về mặt tình dục”! Chắc nhiều người phương Đông chưa thể đồng tình với quan điểm quá “thoáng" ấy!…
 
                 Nữ văn hào Pháp George Sand.
 
Chúng tôi lững thững dạo bộ trên những lối mòn bên bờ suối, đi qua cây cầu gỗ bắc ngang dòng suối nhỏ giữa rừng sâu - những lối mòn nở đầy hoa dại - mà trước kia “gót sen” nhà nữ văn hào từng dạo qua, giờ vẫn được giữ gìn đúng như nguyên trạng để thu hút du khách bốn phương.
 
Hoa lệ xuân nơi vườn nhà George Sand.
 
Xem những bức chân dung treo ở chỗ cối xay nước Angibault, hay trong lâu đài Nohant, tôi thấy George Sand, với khuôn mặt đầy đặn, cặp mắt to mơ màng, sống mũi cao dọc dừa, là một người đàn bà đẹp. Tôi nói nhận xét ấy với Jeannette. Nào ngờ bà ngạc nhiên hỏi lại:

- Một phụ nữ buông thả như George Sand mà ông cũng cho là đẹp? 
Chợt nhớ ra bà là một Ki-tô hữu sùng đạo, muốn giữ gìn phẩm hạnh thuần khiết, tôi vội nói thêm:

- Tất nhiên, George Sand không đẹp một cách… đoan trang!
Văn chương của nhà nữ văn hào ấy rất nổi tiếng về tả cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, tình yêu mơ màng, và đôi khi cả tình yêu nhục cảm.
 
Văn hào Nga Ivan Tourguéniev, tác giả Bút ký người đi săn, Cha và con, Lũ xuân... cũng thường lui tới thái ấp của bà George Sand ở Nohant. 
                                                                                                           
(Còn tiếp)
 

 

 
 

Tin đã đăng

Chambord - tòa lâu đài lớn nhất thời Phục hưng ở Pháp (09-06-2011)
Quần đảo Cayman - nơi tuyệt vời cho lặn biển (08-06-2011)
Vẻ đẹp của Nhà thờ Duomo tại “Kinh đô thời trang” thế giới (07-06-2011)
Một thoáng Milan (07-06-2011)
Nữ hoàng Anh đến thăm lâu đài Rock of Cashel (05-06-2011)
Những nhà thờ cổ kính nhất châu Âu (04-06-2011)
Những ngõ nhỏ đồng quê miền Nam nước Pháp (03-06-2011)
Vùng đất của những tòa lâu đài (01-06-2011)
Không gian đa sắc màu ở Perigord, nước Pháp (30-05-2011)
Vườn hồng Val de Marne - địa đàng nơi trần thế (29-05-2011)
Hoa Thủy tiên trên quần đảo Scilly (28-05-2011)
Aalsmeer - chợ hoa lớn nhất Hà Lan (28-05-2011)
Khám phá đất nước Ba Lan xinh đẹp (25-05-2011)
Vẻ đẹp ngọn núi lửa làm cả Châu Âu lo lắng (25-05-2011)
Chùm ảnh đại bàng đỏ tung cánh trên bầu trời xứ Wales (23-05-2011)
Đi tàu lửa ngắm núi tuyết Thụy Sĩ (19-05-2011)
Đến Scotland và khám phá những điều kỳ thú (19-05-2011)
 
VIDEO